Thực tiễn thực hiện Điều ước quốc tế về quyền trẻ em theo quy định của pháp luật Việt Nam

Thực tiễn thực hiện Điều ước quốc tế về quyền trẻ em

Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và là quốc gia thứ hai ở châu Á kí kết và phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em vào năm 1990 và chấp nhận hoàn toàn mà không bảo lưu bất kì điều khoản nào. Bên cạnh đó Việt Nam còn kí và phê chuẩn 2 nghị định thư tùy chọn của Công ước về quyền trẻ em là Nghị định thư về sự tham gia của trẻ em về xung đột vũ trang (phê chuẩn ngày 20/12/2001) và Nghị định thư tùy chọn của Công ước về quyền trẻ em về việc buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và khiêu dâm trẻ em (phê chuẩn 20/12/2001).

Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em là tuyên bố đầy đủ nhất về quyền trẻ em từng được ban hành và là hiệp ước quốc tế về quyền con người được phê chuẩn rộng rãi nhất trong lịch sử. Công ước có 54 điều khoản bao gồm tất cả các khía cạnh của cuộc sống của trẻ và đặt ra các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa mà tất cả trẻ em ở khắp mọi nơi đều được hưởng. Nó cũng giải thích cách người lớn và chính phủ phải làm việc cùng nhau để đảm bảo tất cả trẻ em đều có thể được hưởng tất cả các quyền của mình.Công ước phải được nhìn nhận một cách tổng thể: tất cả các quyền đều liên kết với nhau và không có quyền nào là quan trọng hơn quyền khác.

Nắm bắt được tinh thần của công ước, Việt Nam đã thực hiện công ước với sự tận tâm thiện chí cao. Pháp luật trong nước tôn trọng các nội dung đã được đề cập trong công ước và hướng tới các biện pháp phù hợp để đảm bảo thực hiện. hầu hết các quyền trẻ em nêu trong công ước đều được các nhà làm luật chuyển hóa vào luật quốc gia, ghi nhận và tôn trọng quyền trẻ em từ Hiến pháp cho tới pháp luật chuyên ngành. Duy chỉ có sự khác biệt giữa hai văn bản là sự quy định về độ tuổi trẻ em. Nếu như công ước quốc tế nêu rõ trẻ em là người dưới 18 tuổi thì pháp luật Việt Nam quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi. Có sự chênh lệch 2 tuổi này là do mối liên quan giữa các ngành luật trong nước đã thống nhất về độ tuổi trẻ em nên nếu thay đổi theo công ước quốc tế sẽ dẫn tới thực tế phải chỉnh sửa lại nội dung rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Trước khi thông qua luật trẻ em 2016, nhiều đại biểu quốc hội băn khoăn về vấn đề nếu tăng dộ tuổi trẻ em sẽ dẫn tới việc số lượng trẻ em cũng tăng theo trên thực tế mà số lượng cán bộ trực tiếp làm công tác trẻ em được đánh giá là chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em. Việc tăng số lượng trẻ em sẽ làm giảm nguồn lực dành riêng cho từng trẻ, dẫn đến công tác trẻ em sẽ hạn chế.

Mặt khác có ý kiến cho rằng, nội dung Điều 1 công ước nêu rõ :”Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”, do đó, quy định này hoàn toàn mở, không bó buộc. Việc giữ nguyên tuổi trẻ em là dưới 16 tuổi không bị xem là vi phạm công ước quốc tế.

Kể từ khi chính thức trở thành thành viên của Công ước, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở VN và đạt được nhiều thành tựu đáng kể.

Thực tiễn thực hiện Điều ước quốc tế về quyền trẻ em theo quy định của pháp luật Việt Nam
Thực tiễn thực hiện Điều ước quốc tế về quyền trẻ em theo quy định của pháp luật Việt Nam

1.Những thành tựu và thuận lợi trong quá trình thực hiện

 Thứ nhất, hệ thống chính sách pháp luật không ngừng hoàn thiện theo hướng tiếp cận toàn diện quyền trẻ em, nhiều văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng nhằm giải quyết các khía cạnh khác nhau trong vấn đề bảo vệ quyền trẻ em. Trước hết, bên cạnh quy định chung về quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013 , quyền trẻ em đã quy định tại Điều 37 như sau: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em.”

Ngay sau khi gia nhập thì đến năm 1991, Việt Nam ban hành 2 đạo luật quan trọng dành riêng cho trẻ em là Luật phổ cập giáo dục tiểu học và Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ( sửa đổi, bổ sung năm 2004); đặc biệt đến năm 2016, Quốc hội thông qua Luật Trẻ em nhằm bổ sung các quy định mới để giải quyết những vấn đề vướng mắc của thực tiễn trong thực hiện các quyền trẻ em; bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật; bảo đảm phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội. Ngoài ra, Quốc hội còn ban hành nhiều đạo luật như Luật giáo dục năm 2005, Luật phòng chống mua bán người năm 2011, Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật dân sự năm 2015, luật lao động, hôn nhân gia đình… quy định nhiều nội dung trực tiếp hoặc gián tiếp về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ emn khỏi bị xâm hại, bạo lực, vừa đảm bảo sự tương thích với Công ước, vừa là cơ sở pháp lí quan trọng để các cơ quan và Ủy ban nhân dân các cấp chỉ đạo triển khai và thực hiện thực hiện các hoạt động phòng ngừa, bảo vệ và trợ giúp trẻ em.

Thứ hai, từng bước thiết lập cơ quan chuyên trách đảm bảo thực thi và giám giám sát việc thực hiện quyền trẻ em. Tòa án gia đình và người chưa thành niên được thành lập ở TAND cấp tỉnh và cấp huyện nhằm thiết lập một thiết chế chuyên trách về tư pháp người chưa thành niên, hướng đến việc bảo vệ trẻ em ngày một tốt hơn. Đồng thời, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật, chính sách về trẻ em, đã thành lập đoàn liên ngành để kiểm tra giám sát việc thực hiện.

Thứ ba,  ngân sách nhà nước và những nguồn lực khác đã dành một khoản đầu tư đặc biệt cho công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Việc xây dựng nguồn lực thực hiện quyền trẻ em được được giao trách nhiệm cho Bộ Tài chính và Bộ đầu tư. Các quỹ cứu trợ trẻ em hiện đã và đang được thành lập từ cấp trung ương tới cấp huyện dưới sự quản lý của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Các nguồn ngân sách riêng cho việc cung cấp các dịch vụ y tế miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi đã được lồng vào kế hoạch hằng năm của Bộ Y tế và Ủy ban nhân dân các cấp đã được tính toán vào trong nguồn ngân sách hằng năm của Chính phủ

Thứ tư, không ngừng đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ cả vật chất và tinh thần để được phát triển toàn diện nhất: Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em được xã hội hóa để huy động mọi nguồn lực có thể cho trẻ em, trên cơ sở Nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo. Từng bước chuyên nghiệp hóa mạng lưới, tổ chức và đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em.

Thứ năm, Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn như trẻ em bị bạo lực, trẻ em di cư, trẻ bị bắt cóc, buôn bán, trẻ em sống trong các hộ nghèo từng bước được quan tâm:

Các hành vi xâm phạm quyền trẻ em được các cơ quan tư pháp và Nhà nước tham gia giải quyết kịp thời. Chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở Việt Nam ngày càng đúng huớng, khi đi từ tập trung giải quyết hậu quả, chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, chuyển mạnh sang việc chủ động phòng ngừa, can thiệp sớm, loại bỏ những nguy cơ tổn hại tới trẻ em.

Thứ sáu, các bộ, ngành, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, các cơ quan báo chí đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cấp uỷ, chính quyền về thực hiện quyền trẻ em.. Bên cạnh đó, thực hiện phối hợp với các tổ chức quốc tế, tổ chức xã hội rà soát, xây dựng tài liệu, sản phẩm truyền thông và tổ chức các sự kiện, chiến dịch truyền thông về pháp phòng, chống bạo lực xâm hại trẻ em; phát hiện, lên án các hành vi bạo lực, xâm hại trẻ em, bảo đảm quyền bí mật đời sống riêng tư của trẻ em.

2. Những khó khăn trở ngại trong việc thực hiện

Tuy nhiên, việc thực hiện quyền trẻ em nói chung và công ước về quyền trẻ em nói riêng ở Việt Nam không đơn giản, dễ dàng do còn nhiều khó khăn, trở ngai về kinh tế, xã hội và tâm lý.

– Đất nước còn nghèo khó vì trải qua một thời gian dài liên tục có chiến tranh và bị cấm vận, bao vây kinh tế, dân số lại tăng nhanh. Việc xóa bỏ bao cấp và thực hiện kinh tế thị trường tuy đã đạt được những thành tựu bước đầu, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển, song cơ chế thị trường cũng kéo theo nó sự phân hóa giàu nghèo, làm nảy sinh các tệ nạn xã hội, đã tác động mạnh mẽ đến đơi sống tinh thần, vật chất của trẻ em, gây nhiều trở ngại cho việc thực hiện quyền trẻ em.

– Nhiều bậc cha mẹ hay người lớn nói chung còn có những hiểu biết rất hạn chế, suy nghĩ lệch lạc và phiến diện về trẻ em và những vấn đề liên quan đến trẻ em. Thái độ của người lớn đối với trẻ em nhất là đối với những nhóm trẻ cần được bảo vệ đặc biệt (trẻ em bị lạm dụng vệ tình dục; trẻ em khuyết tật; trẻ em đường phố lang thang không nơi nương tựa;…) mới chủ yếu dừng lai ở mức độ tình thương nhân đạo. Khái niệm quyền trẻ em còn mới mẻ và thậm chí còn xa lạ với nhiều người. Việc nắm vững và thực thi pháp luật chưa trở thành thói quen và lối sống của đông đảo nhân dân. Nhiều tâp tục lề thói cũ kỹ, lạc hậu còn đè nặng lên đời sống nhân dân đặc biệt ở nông thôn hay vùng núi và các dân tộc ít người.

– Phần đông những người làm công tác trẻ em, dù trực tiếp hay gián tiếp đều thiếu những hiểu biết toàn diện về nhu cầu, tâm lý, tình cảm và đặc điểm của trẻ em cũng như những kiến thức và kỹ năng công tác xã hội cần thiết trong việc bảo vệ , chăm sóc và giáo dục trẻ em. Công tác đào tạo bồi dưỡng đang trở nên cấp bách.

– Vấn đề tham gia hoạt động nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến trẻ em còn là điều mới lạ với nhiều người.

Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Trên đây là tư vấn của Ban biên tập luathonglinh về Thực tiễn thực hiện Điều ước quốc tế về quyền trẻ em theo quy định của pháp luật Việt Nam. Liên hệ luật sư để được tư vấn trực tiếp.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *