Sự liên kết trong mô hình công ty mẹ, công ty con

Phân tích chi tiết Sự liên kết trong mô hình công ty mẹ, công ty con

Mô hình công ty mẹ – công ty con liên kết với nhau trên cơ sở các điều kiện.

Thứ nhất, liên kết giữa công ty mẹ và công ty con hình thành từ hoạt động góp vốn của công ty mẹ vào công ty con (mô hình công ty mẹ – công ty con hình thành khi một công ty thực hiện đầu tư, góp vốn, công ty mẹ sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của công ty con). Về bản chất, công ty mẹ chính là cổ đông, thành viên góp vốn của công ty con. Tuy nhiên, cổ đông, thành viên này giữ quyền chi phối trong công ty con. Công ty mẹ có thể chi phối toàn bộ hoặc một phần hoạt động của công ty con phụ thuộc vào phần vốn góp mà công ty mẹ nắm giữ. Thông thường, tỉ lệ vốn góp để công ty mẹ chi phối công ty con được xác định là quá bán cho dù thực tế không phải trường hợp nào cũng vậy.

Bên cạnh đó, công ty mẹ và con ty con còn liên kết trên cơ sở quyền chi phối thông qua việc kiểm soát hoạt động công ty. Quyền chi phối thông qua việc kiểm soát hoạt động công ty là hình thức công ty mẹ cử đa số người vào ban điều hành công ty con, chi phối hoặc quyết định phương thức kinh doanh công ty con. Việc cử người quản lí từ công ty mẹ vào ban điều hành của công ty con có thể thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp. Trong trường hợp trực tiếp, công ty con chấp nhận những điều kiện để trở thành thành viên tập đoàn, cho phép công, ti mẹ được bổ nhiệm các chức danh quản lí quan trọng của công ty, công ty mẹ được quyền sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty bị chi phối. Việc chấp nhận điều kiện này tạo cho công ty con cơ hội gia nhập tập đoàn, từ đó được hưởng lợi ích từ tập đoàn. Trong trường hợp gián tiếp, công ty mẹ sở hữu cổ phần, phần vốn góp của công ty con nhưng chưa ở mức chi phối, tuy nhiên sau khi bầu ban điều hành, với số cổ phần, phần vốn góp nắm giữ công ty mẹ vẫn cử được đa số thành viên trong ban điều hành công ty con.

Khi đã ở trong quan hệ mẹ – con, công ty mẹ chi phối đối với các quyết định liên quan đến hoạt động của công ty con thông qua một số hình thức như quyền bỏ phiếu chi phối đối với các quyết định của công ty con, quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm Hội đồng quản trị, ban lãnh đạo hoặc. quyền tham gia quản lý, điều hành. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng vị trí công ty mẹ và công ty con chỉ trong mối quan hệ giữa hai công ty với nhau và mang tính chất tương đối, tức công ty con này có thể là công ty mẹ của một công ty khác. Tính tương đối này càng nổi bật hơn trong trường hợp các công ty trong một nhóm có nắm giữ vốn cổ phần qua lại của nhau.

Vì công ty mẹ và công ty con là hai thực thể pháp lý độc lập, bình đẳng trước pháp luật, có tài sản riêng, tự mình thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, chỉ chịu trách nhiệm với phần vốn mà mình góp và tự chịu trách nhiệm đối với hoạt động kinh doanh của mình. Trong trường hợp, công ty mẹ hay công ty con phá sản các công ty trong nhóm công ty không phải chịu các loại trách nhiệm liên đới. Tuy nhiên, do mối quan hệ có tính chất chi phối các quyết định của công ty con, nên pháp luật bắt buộc công ty mẹ phải chịu trách nhiệm liên đới về những ảnh hưởng của công ty mẹ đối với công ty con. Về nguyên tắc, công ty mẹ được quyền chi phối hoạt động của công ty con, nhưng không được vượt quá thẩm quyền và phạm vi cho phép. Công ty con được tự chủ kinh doanh nhưng phải tuân theo các chiến lược kinh doanh chung của nhóm công ty. Công ty con có thể áp dụng các biện pháp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi bị công ty mẹ can thiệp trái pháp luật vào hoạt động kinh doanh .  Pháp luật nước ta quy định về quyền và trách nhiệm của công ty mẹ đối với công ty con tại Điều 196 LDN2020:

Sự liên kết trong mô hình công ty mẹ, công ty con
Sự liên kết trong mô hình công ty mẹ, công ty con

1. Tuỳ thuộc vào loại hình pháp lý của công ty con, công tymẹ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình với tư cách là thànhviên, chủ sở hữu hoặc cổ đông trong quan hệ với công ty con theoquy định tương ứng của Luật này và quy định khác của pháp luậtcó liên quan.

2. Hợp đồng, giao dịch và quan hệ khác giữa công ty mẹ vàcông ty con đều phải được thiết lập và thực hiện độc lập, bìnhđẳng theo điều kiện áp dụng đối với các chủ thể pháp lý độc lập.

3. Trường hợp công ty mẹ can thiệp ngoài thẩm quyền củachủ sở hữu, thành viên hoặc cổ đông và buộc công ty con phảithực hiện hoạt động kinh doanh trái với thông lệ kinh doanh bìnhthường hoặc thực hiện hoạt động không sinh lợi mà không đền bù hợp lý trong năm tài chính có liên quan, gây thiệt hại cho công ty con thì công ty mẹ phải chịu trách nhiệm về thiệt hại đó.

3. Người quản lý của công ty mẹ chịu trách nhiệm về việc can thiệp buộc công ty con thực hiện hoạt động kinh doanh quy định tại khoản 3 Điều này phải liên đới cùng công ty mẹ chịu trách nhiệm về các thiệt hại đó.

4. Trường hợp công ty mẹ không đền bù cho công ty con theo quy định tại khoản 3 Điều này thì chủ nợ hoặc thành viên, côổ đông có sở hữu ít nhất 1% vốn điều lệ của công ty con có quyền nhân danh chính mình hoặc nhân danh công ty con đòi công ty mẹ đền bù thiệt hại cho công ty con.

5. Trường hợp hoạt động kinh doanh như quy định tại khoản 3 Điều này do công ty con thực hiện đem lại lợi ích cho công ty con khác của cùng một công ty mẹ thì công ty con được hưởng lợi đó phải liên đới cùng công ty mẹ hoàn trả khoản lợi được hưởng đó cho công ty con bị thiệt hại

Trong trường hợp, công ty mẹ có hành vi can thiệp trái phép gây thiệt hại cho hoạt động kinh doanh của công ty con, công ty mẹ có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại cho công ty con. Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã quy định về trách nhiệm bồi thường của công ty mẹ trong trường hợp công ty mẹ can thiệp vượt thẩm quyền hoặc buộc công ty con thực hiện hoạt động kinh doanh trái với thông lệ kinh doanh bình thường hoặc thực hiện hoạt động không sinh lợi gây thiệt hại cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công tỉ con.

Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã trao quyền cho chủ nợ hoặc thành viên, cổ đông sở hữu ít nhất 1% vốn điều lệ của công ty có thể nhân danh chính mình hoặc nhân danh công ty con đòi công ty mẹ đền bù thiệt hại. Đối với trường hợp hoạt động kinh doanh của công ty con đem lại lợi ích cho công ty con khác của cùng một công ty mẹ thì công ty con được hưởng lợi có nghĩa vụ liên đới với công ty mẹ, hoàn trả khoản lợi được hưởng cho công ty con bị thiệt hại (khoản 6, Điều 196 Luật Doanh nghiệp 2020).

Mô hình công ty mẹ – công ty con có nhiều cấp. Cấp một gồm công ty chi phối ban đầu (công ty mẹ) có các công ty bị chi phối (các công ty con cấp một). Cấp hai bao gồm công ty chi phối (là công tỉ con cấp một) có các công ty bị chi phối (các công ty con cấp hai), v.v.. Số cấp trong mô hình công ty mẹ – công ty con có thể bị giới hạn để đảm bảo khả năng quản lí, giám sát của công ty mẹ. Các công ty mẹ, công ty con cấp một, công ty con cấp hai, v.v.. có thể mang chung thành tố trong tên của công ty mẹ ban đầu, thành tổ này trở thành nhãn hiệu hoặc thương hiệu tập đoàn. Các công ty trong nhóm công ty mẹ – công ty con có thể bị hạn chế quyền đầu tư để sở hữu vốn lẫn nhau. Tùy từng giai đoạn, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể quy định hạn chế việc đầu tư sở hữu chéo giữa các công ty.

Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định công ty con không được đầu tư góp vốn, mua cổ phần của công ty mẹ. Các công ty con của cùng một công ty mẹ không được cùng nhau góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau.

Bài viết liên quan:

Sự liên kết trong mô hình nhóm công ty

Sự liên kết trong mô hình tập đoàn kinh tế, tổng công ty

Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Trên đây là tư vấn của Ban biên tập luathonglinh về Sự liên kết trong mô hình công ty mẹ, công ty con. Liên hệ luật sư để được tư vấn trực tiếp.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *