So sánh hợp đồng tặng cho tài sản và di tặng

1. Giống nhau giữa Hợp đồng tặng cho tài sản và di tặng

Hợp đồng tặng cho tài sản và di tặng đều là phương thức chuyển quyền sở hữu tài sản từ người này sang người khác mà không có sự đền bù. 

2. Khác nhau giữa hợp đồng tặng cho tài sản và di tặng

2.1. Khác nhau về loại giao dịch

Hợp đồng tặng cho tài sản Là hợp đồng; do đó, để hình thành được hợp đồng tặng cho tài sản thì phải có sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của từ 02 bên chủ thể trở lên
Di tặng di tặng là một hành vi pháp lý đơn phương thể hiện ý chí của một bên lập di chúc mà không cần có sự thỏa thuận giữa người lập di chúc với người được di tặng.
So sánh hợp đồng tặng cho tài sản và di tặng (ảnh minh họa)
So sánh hợp đồng tặng cho tài sản và di tặng (ảnh minh họa)

2.2. Về chủ thể của giao dịch

Chủ thể của hợp đồng tặng cho tài sản và chủ thể của di tặng có hai điểm khác biệt cơ bản sau:

Bên tặng cho và bên di tặng

+ Xuất phát từ lý do tặng cho là một loại hợp đồng; còn di tặng là một hành vi pháp lý đơn phương nên chủ thể giữa hai loại giao dịch này có sự khác biệt căn bản. Đối với hợp đồng tặng cho tài sản, số lượng chủ thể luôn luôn tối thiểu từ hai trở lên gồm bên tặng cho và bên được tặng cho. Chủ thể trong hợp đồng tặng cho tài sản có thể là cá nhân hoặc pháp nhân.

Còn di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác mà người lập di chúc chỉ có thể cá nhân nên chủ thể di tặng phải là cá nhân mà không thể là pháp nhân như hợp đồng tặng cho tài sản.

+ Giữa cá nhân tặng cho tài sản và cá nhân được lập di chúc để di tặng tài sản cũng có hai sự khác biệt như sau:

– Cá nhân được lập di chúc để di tặng di sản của họ cho người khác phải từ đủ 15 tuổi trở lên, cụ thể: Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc (khoản 2 Điều 625 BLDS năm 2015). Trong khi đó, cá nhân từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi cũng có thể giao kết, xác lập hợp đồng tặng cho tài sản nếu được người đại diện theo pháp luật đồng ý.

– Cá nhân từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi được xác lập hợp đồng tặng cho theo ý chí của họ, trừ việc tặng cho bất động sản, động sản đăng ký sở hữu thì cần có sự đồng ý của người đại diện. Tuy nhiên, trường hợp nhóm cá nhân này muốn lập di chúc để di tặng di sản thì cần phải có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người đại diện đối với mọi loại tài sản nói chung bao gồm cả tài sản phải đăng ký sở hữu hay tài sản không phải đăng ký sở hữu.

Hai là, bên được tặng cho và bên được di tặng

Pháp luật không giới hạn nên cả người được tặng cho và người được di tặng đều có thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Điểm khác biệt giữa người được tặng cho và người được di tặng thể hiện ở hai nội dung sau:

Trong toàn bộ quy định về hợp đồng tặng cho tài sản không có quy định riêng về người được tặng cho nên tư cách chủ thể của người được tặng cho được áp dụng theo các quy định chung về chủ thể, cụ thể: đối với cá nhân được tặng cho tài sản thì năng lực pháp luật dân sự phát sinh kể từ khi cá nhân đó được ra (khoản 3 Điều 16 BLDS năm 2015); do đó, đứa trẻ chưa được sinh ra không có tư cách nhận tài sản tặng cho.

Khác với người được tặng cho, người được di tặng có thể chưa được sinh ra nhưng vẫn được di tặng di sản theo di chúc: “Người được di tặng là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết” (khoản 2 Điều 646 BLDS năm 2015).

Người được tặng cho tài sản không phải gánh vác các nghĩa vụ về tài sản của người tặng cho. Còn đối với di tặng, người được di tặng vẫn phải chịu thực hiện nghĩa vụ do người di tặng để lại nếu toàn bộ di sản của người di tặng không đủ để thực hiện nghĩa vụ của họ (khoản 3 Điều 646 BLDS năm 2015). Lý do người được tặng cho không phải chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của người tặng cho vì đối với quan hệ tặng cho, người tặng cho vẫn còn sống sau khi tặng cho nên không đặt ra vấn đề kế thừa nghĩa vụ. Ngược lại, đối với di tặng, việc di tặng phát sinh khi người di tặng chết; dựa trên nguyên tắc được lợi thì cũng phải gánh chịu nghĩa vụ nên người được di tặng cũng phải có trách nhiệm đối với nghĩa vụ do người chết để lại.

2.3. Về hình thức của giao dịch

Hợp đồng tặng cho tài sản nói chung có thể được xác lập bằng một trong ba hình thức gồm: 

– Được giao kết bằng hành vi;

– Được giao kết bằng lời nói; 

– Được giao kết bằng văn bản.

Trong khi đó, việc di tặng phải được thể hiện trong di chúc mà di chúc chỉ được xác lập bằng hình thức lời nói hoặc văn bản

2.4. Sửa đổi hợp đồng tặng cho tài sản và di tặng

Khi sửa đổi hợp đồng tặng cho tài sản cần phải có sự thỏa thuận, thống nhất của bên tặng cho và bên được tặng cho; nếu một trong hai bên không đồng ý sửa đổi thì hợp đồng tặng cho tài sản không thể được sửa đổi (trừ trường hợp điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản).

Ngược lại, vì di tặng là hành vi pháp lý đơn phương của một bên nên người di tặng hoàn toàn có thể sửa đổi, bổ sung nội dung di tặng bằng cách sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào. Việc sửa đổi di chúc không cần phải được sự đồng ý của người được di tặng.

Bài viết liên quan:

Hợp đồng tặng cho tài sản là gì?

Đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *