Chế độ sở hữu toàn đân về đất đai nhìn từ góc độ hội nhập quốc tế

Sở hữu toàn đân về đất đai nhìn từ góc độ hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế là xu hướng tất yếu của các quốc gia trên thế giới mà Việt Nam không phải là trường hợp ngoại lệ. Quá trình hội nhập quốc tế đã và đang làm thay đổi hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và hệ thống pháp luật đất đai nói riêng theo hướng công khai, minh bạch và bình đẳng; đồng thời, thu hẹp dẫn những khác biệt trong nội dung quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam so với hệ thống pháp luật các nước trên thế giới cũng như luật pháp quốc tế.

Ở một khía cạnh khác, Việt Nam tham gia vào quá trình hội nhập với chế độ sở hữu đất đai đặc thù – đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu – khác với chế độ sở hữu đất đai của nhiều nước trên thế giới. Trong khi đó, hội nhập quốc tế trước hết là hội nhập, hợp tác về kinh tế, thương mại mà các bên cùng có lợi.

Để vượt qua những trở ngại do chế độ sở hữu đất đai đặc thù (đất đai thuộc sở hữu toàn dân) đem lại nhằm tạo môi trường đầu tư bình đẳng, bảo đảm quyền tự do kinh doanh cho doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, pháp luật về vấn đề này đã được sửa đổi, bổ sung; theo đó:

Một là:

Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai thông qua một trong những hình thức là giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Để đảm bảo sự bình đẳng trong việc tiếp cận đất đai của mọi tổ chức kinh tế không phân biệt là thành phần kinh tế nhà nước, thành phần kinh tế tư nhân hay thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài v.v…; Nhà nước từng bước hạn chế phương thức giao đất cho tổ chức kinh tế bằng việc sử dụng việc cho thuê đất. Điều này góp phần làm giảm cơ chế “xin – cho” trong tiếp cận đất đai của tổ chức kinh tế tiềm ẩn nguy cơ tham nhũng, tiêu cực và lợi ích nhóm.

Mặt khác, từng bước xóa bỏ sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận đất đai giữa tổ chức kinh tế trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trước khi Luật đất đai năm 2013 ra đời, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam mà không được giao đất; trong khi đó, tổ chức kinh tế trong nước lại được Nhà nước giao đất và cho thuê đất. Ngược lại, tổ chức kinh tế chỉ được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm; trong khi đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm và cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê.

Điều này đi ngược với yêu cầu về bình đẳng trong kinh doanh của hội nhập kinh tế quốc tế. Sau khi Luật đất đai năm 2013 ra đời, thực trạng này đã được khắc phục; theo đó, Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với tổ chức kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc kết hợp giữa bán với cho thuê. Hơn nữa, tổ chức kinh tế trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê.

Chế độ sở hữu toàn đân về đất đai nhìn từ góc độ hội nhập quốc tế
Chế độ sở hữu toàn đân về đất đai nhìn từ góc độ hội nhập quốc tế

Hai là:

 quyền sử dụng đất nói chung và quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế nói riêng được pháp luật bảo hộ. Điều này thể hiện: Một là, tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất, cho thuê đất ổn định lâu dài được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hai là, tổ chức kinh tế sử dụng đất có quyền khiếu nại, tố cáo về hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật đất đai; ba là, trong trường hợp tổ chức kinh tế sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì được bồi thường, hỗ trợ.

Ba là:

Hạn chế quyền thu hồi đất của tổ chức kinh tế bằng biện pháp hành chính (Nhà nước thu hồi đất); theo đó, Nhà nước thu hồi đất trong các trường hợp: i) Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; ii) Thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; iii) Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; iv) Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người. Đồng thời, pháp luật thừa nhận và khuyến khích việc tiếp cận đất đai của tổ chức kinh tế theo cơ chế dân sự phù hợp với cơ chế thị trường

Bài viết liên quan:

Hợp đồng tặng cho tài sản là gì?

Thừa kế theo pháp luật là gì? Đặc điểm của thừa kế theo pháp luật

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *