Ai có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Việc áp dụng BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI là nhằm bảo đảm việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Do đó, người có quyền yêu cầu tòa án áp dụng BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI được xác định là người có quyền yêu cầu tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Căn cứ vào quy định tại Điều 111 BLTTDS 2015 thì những người có quyền yêu cầu tòa án áp dụng BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI gồm có:

– Các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự;

– Các cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Đương sự: Theo tinh thần chung của BLTTDS, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI là những đương sự trong vụ án dân sự. Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, tổ chức có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến VADS, tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Không phải mọi cá nhân, tổ chức đều có thể trở thành đương sự trong VADS, phải có đủ năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự. Đương sự là cá nhân chưa đủ 18 tuổi, mất năng lực hành vi dân sự không được tự mình tham gia tố tụng, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ tại tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện.

Đương sự là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 19 tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc các giao dịch dân sự bằng tài sản của mình thì được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó. Với đương sự là tổ chức thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng do người đại diện hợp pháp thực hiện.

Ai có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Ai có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Người đại diện hợp pháp của đương sự: là người thay mặt đương sự tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trước tòa án, việc tham gia tố tụng của người đại diện đuuơng sự có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết vụ án dân sự và bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự, nhất là trường hợp đương sự không tự thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình. Người đại diện hợp pháp của đương sự trong TTDS có thể là người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền của đương sự hoặc người đại diện do Tòa án chỉ định quy định cụ thể tại Điều 85 BLTTDS 2015.

Người đại diện theo pháp luật trong TTDS: là người theo quy định của pháp luật được thay mặt đương sự tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự. Đương sự được người đại diện theo pháp luật tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích của họ trong trường hợp họ là người chưa thành niên, người bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc người vắng mặt không có tin tắc (một người được xem là vắng mặt khi người đó biệt tích 06 tháng liền). Cá nhân, tổ chức khởi kiện bảo vệ quyền và lợi ích người khác cũng là đại diện theo pháp luật của đương sự được bảo vệ.

Người đại diện theo ủy quyền là người thay mặt đương sự tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, mối quan hệ này được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện. Trong TTDS, đương sự thường không có kinh nghiệm tham gia tố tụng và sự hiểu biết pháp luật chưa đầy đủ nên BLTTDS quy định họ có thể ủy quyền cho Luật sự hoặc người khác đại diện tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hiệu quả hơn, trừ những vụ việc phải do chính họ tham gia tố tụng không được ủy quyền cho người khác như xin ly hôn…Những người sau đấy không được làm đại diện theo ủy quyền của đương sự: cán bộ, công chức ngành Tòa án, Viện kiểm sát, công an, người đã là đại diện ủy quyền hoặc đại diện pháp luật của người khác có quyền và lợi ích đối lập với đương sự.

Cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ quyền và lợi ích của người khác: Với chủ trường nâng cao vai trò, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc tham gia quản lý xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức Uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em, tổ chức công đoàn, Hội liên hiệp phụ nữ… có quyền khởi kiện các vụ việc dân sự để bảo vệ lợi ích công cộng, bảo vệ tài sản của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình quản lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các thành viên của tổ chức mình.

Tòa án là chủ thể đặc biệt trong tố tụng. Tòa án ra quyết định áp dụng BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI trên cơ sở có yêu cầu của đương sự trong trường hợp khẩn cấp. Trong quá trình giải quyết vụ việc nếu thấy cần thiết và có đầy đủ căn cứ, Tòa án cũng có thể chủ động áp dụng các BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, của cộng đồng mà không phải chờ đến khi đương sự có yêu cầu. Điều này được ghi nhận tại Điều 135 BLTTDS 2015 Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, bao gồm các BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI quy định tại các khoản 1,2,3,4,5 Điều 114 BLTTDS 2015. Đối với các biện pháp quy định tại các khoản 6,7,8,9,10,11,12,13,14,15 và 16 Điều 114 BLTTDS 2015 thì Tòa án không tự mình ra quyết định áp dụng BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI. Tòa án chỉ được áp dụng các BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI này khi có đương sự có đơn yêu cầu. Ngoài các biện pháp được quy định từ khoản 1 đến khoản 16 Điều 114 BLTTDS 2015, khi giải quyết các vụ án dân sự, Tòa án có trách nhiệm giải quyết yêu cầu áp dụng BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI khác do luật khác quy định (khoản 17 Điều 114 BLTTDS 2015). Do đó, khi giải quyết các tranh chấp Tòa án phải xem xét các quy định về áp dụng BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI của luật nội dung để áp dụng.

Bài viết cùng chủ đề:

Điều kiện áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Trên đây là tư vấn của Ban biên tập luathonglinh về Ai có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Liên hệ luật sư để được tư vấn trực tiếp.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *