Phân biệt tặng cho tài sản có điều kiện và hứa thưởng

Tặng cho tài sản có điều kiện và hứa thưởng là hai loại giao dịch dễ gây nhầm lẫn trên thực thế. Để phân định hai loại giao dịch này, cần nắm rõ một số tiêu chí:

1. Khác nhau Về loại giao dịch

Tặng cho tài sản có điều kiện là một hợp đồng dân sự gồm hai bên chủ thể là bên tặng cho và bên được tặng cho. Do đó, để xác lập tặng cho tài sản có điều kiện cần phải dựa trên cơ sở thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên chủ thể trong hợp đồng. Ngược lại, hứa thưởng là hành vi pháp lý đơn phương; do đó, để xác lập giao dịch hứa thưởng thì chỉ cần sự tuyên bố ý chí của một bên hứa thưởng.

2. Khác nhau về chủ thể giữa tặng cho tài sản có điều kiện và hứa thưởng

Chủ thể của tặng cho tài sản có điều kiện luôn được xác định cụ thể cả bên tặng cho và bên được tặng cho. Còn hứa thưởng là một hành vi pháp lý đơn phương nên chỉ cần xác định cụ thể đối với bên hứa thưởng.

Phân biệt tặng cho tài sản có điều kiện và hứa thưởng
Phân biệt tặng cho tài sản có điều kiện và hứa thưởng

3. Khác nhau về Thời điểm phát sinh hiệu lực 

Theo quy định tại Điều 458 và Điều 459 BLDS năm 2015, tặng cho tài sản có điều kiện phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản (đối với tài sản không phải đăng ký sở hữu) hoặc kể từ thời điểm hoàn tất thủ tục đăng ký (đối với tài sản phải đăng ký sở hữu). Riêng đối với tặng cho động sản không phải đăng ký sở hữu, bên tặng cho và bên được tặng cho được quyền thỏa thuận về thời điểm phát sinh hiệu lực.

Còn hứa thưởng có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm bên hứa thưởng ấn định trong tuyên bố hứa thưởng; nếu bên hứa thưởng không ấn định thời điểm thì hứa thưởng có hiệu lực kể từ khi tuyên bố hứa thưởng được đưa ra. Việc chuyển giao tài sản hứa thưởng từ bên hứa sang cho bên được thưởng không phải là thời điểm phát sinh hiệu lực của hứa thưởng mà đây chỉ là việc thực hiện nghĩa vụ của bên hứa thưởng đối với bên đã hoàn thành công việc theo đúng yêu cầu của người hứa thưởng.

4. Khác nhau về Thứ tự thực hiện nghĩa vụ

Đối với tặng cho tài sản có điều kiện, bên được tặng cho có thể thực hiện điều kiện tặng cho trước hoặc sau khi nhận tài sản tặng cho. Điều này được thể hiện rất rõ tại khoản 1 Điều 462 BLDS năm 2015: “Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho”.

Ngược lại, đối với hứa thưởng thì người được nhận thưởng phải là người đã thực hiện xong công việc mà bên tuyên bố hứa thưởng đưa ra. Do đó, việc trả thưởng chỉ được tiến hành sau khi công việc mà bên trả thưởng đưa ra đã được hoàn thành. Điều này cũng được thể hiện trong quy định tại khoản 1 Điều 570 BLDS năm 2015: “Người đã công khai hứa thưởng phải trả thưởng cho người đã thực hiện công việc theo yêu cầu của người hứa thưởng”.

5. Khác nhau về Tính chất đền bù của điều kiện tặng cho và công việc hứa thưởng

Bởi hợp đồng tặng cho tài sản luôn là hợp đồng không có đền bù, do vậy điều kiện tặng cho không được làm mất đi tính chất không đền bù của loại hợp đồng này. Ngược lại, công việc hứa thưởng có thể mang lại lợi ích vật chất cho bên hứa thưởng hoặc không mà không phải chịu sự giới hạn như điều kiện tặng cho.

Bài viết có liên quan:

Đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản là gì?

Hợp đồng tặng cho tài sản là gì?

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *