Nguyên tắc bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật thể hiện trong pháp luật như thế nào?

Điểm mốc đánh dấu sự phát triển của chế độ bảo trợ xã hội nói riêng và pháp luật người khuyết tật nói chung là sự ra đời của Luật người khuyết tật năm 2010. Theo đó, chế độ bảo trợ xã hội cho người khuyết tật chủ yếu bao gồm chế độ trợ cấp, hỗ trợ cho người khuyết tật và chế độ nuôi dưỡng người khuyết tật tại các cơ sở bảo trợ xã hội.

1.Chế độ trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng

Đây là chế độ trợ cấp cơ bản của bảo trợ xã hội cho người khuyết tật. Theo quy định Luật người khuyết tật, để được hưởng khoản trợ cấp và hỗ trợ đối tượng khuyết tật phải đảm tạo điều kiện hưởng. Điều kiện để hưởng trợ cấp xã hội và hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng với hai nhóm đối tượng có sự khác nhau.

Tại điều 44 . trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc.1. Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng bao gồm:a) Người khuyết tật đặc biệt nặng, trừ trường hợp quy định tại Điều 45 của Luật này;b) Người khuyết tật nặng.

 Theokhoản 1 nghị định Điều 4 nghị định 136/ 2013:  Mc chuẩn trợ cấp, trợ giúp xã hội:  Mức chuẩn trợ cấp, trợ giúp xã hội (sau đây gọi chung là mức chuẩn trợ giúp xã hội) là 270.000 đồng.

Theo điều 16 nghị định 28/2012 –ND- CP hướng dẫn Luật khuyết tật:

 Hệ số tính mức trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người khuyết tật sống tại hộ gia đình được quy định như sau: Hệ số hai 2.0  đối với người khuyết tật đặc biệt nặng;Hệ số hai phẩy năm 2.5  đối với người khuyết tật đặc biệt nặng là người cao tuổi, người khuyết tật đặc biệt nặng là trẻ em;) Hệ số một phẩy năm 1.5  đối với người khuyết tật nặng; Hệ số hai 2.0 đối với người khuyết tật nặng là người cao tuổi, người khuyết tật nặng là trẻ em. Trong trường hợp người khuyết tật thuộc nhiều đối tượng khác nhau thì được hưởng hệ số cao nhất

 Người khuyết tật quy định tại Khoản 1 Điều này đang được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, khi chết được hỗ trợ chi phí mai táng bằng mức hỗ trợ mai táng đối với đối tượng bảo trợ xã hội. Trường hợp người khuyết tật thuộc diện hưởng các mức hỗ trợ chi phí mai táng khác nhau thì chỉ được hưởng một mức cao nhất. Theo Luật khuyết tật tiêu chí xác định đối tượng hưởng trợ cấp xã hội chỉ dừng ở mức độ khuyết tật mà không đề cập đến các điều kiện kinh tế, tình trạng tài sản, tình trạng nhân thân…Theo Luật người khuyết tật, để được hưởng trợ cấp này đối tượng phải được xác định là: người khuyết tật nặng hoặc người khuyết tật đặc biệt. Bên cạnh chế độ trợ cấp với bản thân đối tượng khuyết tật, luật hiện hành cũng quy định quyền lợi cho thân nhân, gia đình và người nhận nuôi người khuyết tât thông qua chế độ hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng. Theo khoản 2 điều 44 trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc tháng: Gia đình có người khuyết tật đặc biệt nặng đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người đó;Người nhận nuối dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng; Người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Do mục đích của trợ cấp bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật là nhằm hỗ trợ, giúp đỡ ở mức độ cần thiết đảm bảo các nhu cầu sinh sống cơ bản của người khuyết tật nên mức trợ cấp được xác định trên cơ sở của chi phí sinh hoạt tối thiểu. Mức chuẩn xác định mức trợ cấp xã hội và hỗ trợ hàng tháng được điều chỉnh khi mức sống tối thiểu của dân cư thay đổi. Bên cạnh khoản trợ cấp, hỗ trợ từ nguồn tài chính công, Nhà nước cũng chú trọng tới việc phát huy tối đa khả năng của bản thân đối tượng, gia đình và cộng đồng trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người khuyết tật.Theo khoản 1 điều 17 nghị định 28/2012 hướng dẫn Luật khuyết tật:  Hệ số tính mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng đối với người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi được quy định như sau: Hệ số một phẩy năm 1.5  đối với người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng đang mang thai hoặc nuôi một con dưới 36 tháng tuổi; Hệ số hai 2.0  đối với người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng đang mang thai và nuôi con dưới 36 tháng tuổi;hệ số  hai 2.0  đối với người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng đang nuôi từ hai con trở lên dưới 36 tháng tuổi;Trường hợp người khuyết tật thuộc diện hưởng các hệ số khác nhau quy định tại Điểm a, Điểm b và Điểm c Khoản 1 Điều này thì chỉ được hưởng một hệ số cao nhất;đ) Trường hợp cả vợ và chồng là người khuyết tật thuộc diện hưởng hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng quy định tại Khoản 1 Điều này thì chỉ được hưởng một suất hỗ trợ kinh phí chăm sóc quy định tại Điểm a, Điểm b và Điểm c Khoản 1 Điều này

2.Chế độ nuôi dưỡng người khuyết tật trong cơ sở bảo trợ xã hội

Nuôi dưỡng người khuyết tật tại các cơ sở bảo trợ xã hội cảu Nhà nước là một chế độ vô cùng nhân đạo và đặc biệt có ý nghĩa đối với đối tượng người khuyết tật. Điều này thể hiện rõ nét nhất trách nhiệm của nhà nước đối với cuộc sống của người khuyết tật. Người khuyết tật được tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội phải đảm bảo những điều kiện nhất định. Theo khoản 1 điều 45: Nuôi dưỡng người khuyết tật trong cơ sở bảo trợ xã hội : Người khuyết tật đặc biệt nặng không nơi nương tựa, không tự lo được cuộc sống được tiếp nhận vào nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội. Thực tế cho thấy, hoàn cảnh sống của những đối tượng này vô cùng khó khăn, không tự chăm sóc, hỗ trợ thường xuyên hằng ngày tính mạng họ có thể bị đe dọa. Chế độ bảo trợ xã hội đối với đối tượng người khuyết tật sống tại các cơ sở bảo trợ được đảm bảo bằng nhà nước thông qua kinh phí nuôi dưỡng người khuyết tật. Theo khoản 2. Điều 45 Nuôi dưỡng người khuyết tật trong cơ sở bảo trợ xã hội Nhà nước cấp kinh phí nuôi dưỡng người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này cho các cơ sở bảo trợ xã hội bao gồm: Trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng; Mua sắm tư trang, vật dụng phục vụ cho sinh hoạt thường ngày; Mua thẻ bảo hiểm y tế; Mua thuốc chữa bệnh thông thường; Mua dụng cụ, phương tiện hỗ trợ phục hồi chức năng; Mai táng khi chết; Vệ sinh cá nhân hàng tháng đối với người khuyết tật là nữ. Mức trợ cấp nuôi dưỡng người khuyết tật đặc biệt nặng trong cơ sở bảo trợ xã hội cũng được quy định trên cơ sở hệ số mức trợ cấp chuẩn do Chính phủ quy định trong từng giai đoạn cụ thể. Căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, Chủ Tịch Ủy Ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định mức mua sắm tư trang, vật dụng phục phụ sinh hoạt đời sống hằng ngày, mua thuốc chữa bện thông thường và vệ sinh hằng ngày đối với phụ nữ.

Nhìn chung, chế độ nuôi dưỡng đối với người khuyết tật trong cơ sở bảo trợ tương đối toàn diện đáp ứng nhu cầu tối thiểu, đặc biệt Luật cũng quy định cụ thể về lợi ích chăm sóc y tế và khám chữa bệnh cho đối tượng người khuyết tật. Với những người khuyết  tật nặng đây là một quyền lợi vô cùng thiết thực  và đặc biệt với cuộc sống.

3.Cơ  sở chăm sóc người khuyết tật

Cơ sở chăm sóc người khuyết tật là cơ sở nuôi dưỡng, cung cấp dịch vụ tư vấn, trợ giúp người khuyết tật. Với nội dung hoạt động của mình, các cơ sở chăm sóc người khuyết tật không chỉ dừng lại ở hoạt động nuôi dưỡng mà còn chú trọng tới việc chăm sóc sức khoẻ phục hồi chứ năng và hoà nhập cộng đồng. Các cơ sở này hiện đang chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động hoà nhập cộng đồng trên quan điểm tiến bộ về người khuyết tật.

Theo  khoản 2 điều 47  Cơ sở chăm sóc người khuyết tật bao gồm:  Cơ sở bảo trợ xã hội: Pháp luật quy định cụ thể nhiệm vụ, kinh phí hoạt động, quản lý tài chính chế độ báo cáo đối với các cở sở bảo trợ xã.  Cơ sở dịch vụ hỗ trợ người khuyết tật: trung tâm hỗ trợ người khuyết tật sống độc lập và các cơ sở chăm sóc người khuyết tật khác, điều kiện thành lập được đề xuất với những yêu cầu về địa điểm cơ sở vật chất chăm sóc người khuyết tật phù hợp, chứng minh nguông tài chính, tài sản chi cho hoạt động của cơ với những tiêu chuẩn cụ thể … các cơ sở chăm sóc người khuyết tật phải đảm bảo định mức về nhân viên tư vấn, chăm sóc người khuyết tật theo quy định.. Trung tâm hỗ trợ người khuyết tật sống độc lập: điều kiện cho nhân viên tư vấn hỗ trợ phải được quy định trên những yêu cầu về nhân thân cá nhân, phẩn chất,đạo đức, có kiến thức và kinh nghiệm phù hợp với lĩnh vực tư vấn, có chứng chỉ nghiệp vụ tư vấn, chăm sóc người khuyết tật. và được tập huấn nghiệp vụ nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ cung cấp cho đối tượng đặc biệt. Cơ sở chăm sóc người khuyết tật khác: cơ sở phải tuân thủ điều kiện hoạt động, thực hiện đầy đủ các quy chuẩn về nuôi dưỡng, cung ứng dịch vụ tư vấn, trợ giúp người khuyết tật tương ứng từng loại cơ sở. Các cơ sở  cũng phải thực hiện cải tạo, nâng cấp cơ sở để đảm bảo tiếp nhận đối tượng khuyết tật.

Từ góc độ của bảo trợ xã hội, những quy định về cơ sở chăm sóc khuyết tật là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đảm bảo thực hiện quyền của người khuyết tật lần đầu tiên được quy định tổng quan trong Luật khuyết tật. Đối với những cơ sở chăm sóc người khuyết tật công lập. Nhà nước đảm bảo đầu tư cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt động. Đối với các cơ sở khác ngoài công lập Nhà nước chỉ hỗ trợ với những giới hạn nhất định bằng những ưu tiên, ưu đãi trong hoạt động. Điều kiện thành lập, hoạt động, giải thể cơ sở chăm sóc người khuyết tật được quy định cụ thể đối với từng loại cơ sở.

Đánh giá bài viết

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *