Khi nào cấm kết hôn? Phân tích chi tiết các trường hợp cấm kết hôn

Cấm kết hôn giả tạo

Căn cứ Điểm d, Khoản 1, Điều 8 Luật HN&GĐ 2014 quy định: “Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này”. Trong đó, Điểm a, Khoản 2, Điều 5 quy định về một trong các trường hợp cấm kết hôn đó là kết hôn giả tạo.

Khoản 11, Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình” 

Ví dụ, A là một sinh viên trường Đại học L, là một cô gái có vẻ ngoài xinh đẹp nhưng lại sinh ra trong một gia đình nghèo khó. Cuộc sống của cô cứ thế mà trôi qua rất bình thường cho đến khi tham gia cuộc thi “Sinh viên Việt Nam duyên dáng” do trường tổ chức và đạt giải nhất. Sau khi cuộc thi này diễn ra, có B (người Việt kiều Mỹ) đã để mắt đến A. Cùng thời điểm đó, bố A phát hiện mắc bệnh ung thư và cần rất nhiều tiền để chữa trị, B biết hoàn cảnh A nên đã ngỏ ý nếu A lấy mình thì sẽ cho tiền A giúp bố chữa bệnh. Và kết quả là A đã đồng ý (sau khi kết hôn thì B đã thực hiện đúng lời hứa của mình).

Từ ví dụ trên, ta có thể thấy việc kết hôn này không xuất phát từ tình yêu mà vì mục đích vụ lợi. Mặc dù, kết hôn vì mục đích vụ lợi không vi phạm sự tự nguyện nhưng pháp luật không cho đăng kí kết hôn vì việc kết hôn này không nhằm mục đích xây dựng gia đình và luật gọi là kết hôn giả tạo. Như vậy, nếu đăng kí kết hôn mà phát hiện ra thì sẽ bị từ chối; khi đăng kí mà không phát hiện ra và đăng kí xong rồi mới biết là kết hôn giả tạo thì trong trường hợp đó sẽ bị xem là KHTPL, khi có yêu cầu giải quyết thì Tòa án sẽ xem xét hủy bỏ việc kết hôn đó.

Từ đó, ta có thể thấy được kết hôn giả tạo thì mục đích kết hôn không đảm bảo, việc kết hôn và các thủ tục pháp lý chỉ là hình thức tên mặt giấy tờ, chứ hai người không hề nhằm mục đích muốn cùng nhau xây dựng gia đình. Do đó, trường hợp kết hôn giả tạo được quy định là một trong những trường hợp cấm kết hôn.

Khi nào cấm kết hôn? Phân tích chi tiết các trường hợp cấm kết hôn
Khi nào cấm kết hôn? Phân tích chi tiết các trường hợp cấm kết hôn

Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn với người đang có chồng, có vợ

Khoản 2, Điều 5 Luật HN&GĐ 2014 quy định cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.

Căn cứ Điều 36 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.”

Dựa trên cơ sở đó, Khoản 1 Điều 2 Luật HN&GĐ 2014 khẳng định:

 “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng”.

Có thể thấy, xuất phát từ bản chất hôn nhân xã hội chủ nghĩa là hôn nhân một vợ một chồng, tình yêu nam nữ được lấy làm cơ sở để xác lập hôn nhân, chỉ có hôn nhân một vợ một chồng mới đảm bảo được sự hạnh phúc, bền vững trong gia đình. Ph.Ăngghen cũng chỉ rõ: “Vì bản chất của tình yêu là không thể chia sẻ…cho nên hôn nhân dựa trên tình yêu giữa nam và nữ do ngay bản chất của nó là hôn nhân một vợ một chồng”. Bản chất hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa khác với bản chất của nhà nước phong kiến. Để làm rõ quy định này ta cần phải hiểu rõ thế nào là người đang có vợ, có chồng và người không ở trong tình trạng đang có vợ, có chồng.

Người đang có vợ, có chồng

Theo quy định này của Luật HN&GĐ năm 2014 thì người đang có vợ, có chồng là những người đã kết hôn theo đúng quy định của pháp luật và quan hệ của họ chưa bị chấm dứt do ly hôn hoặc do một trong hai bên bị chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết. Tuy nhiên, trước khi Luật HN&GĐ 2014 có hiệu lực, Nhà nước ta vẫn thừa nhận những trường hợp nam, nữ lấy nhau không đăng kí kết hôn những vẫn chung sống trong quan hệ vợ chồng, gọi là hôn nhân thực tế.

Các trường hợp người đang có vợ, có chồng:

– Người kết hôn với người khác đúng pháp luật và chưa chấm dứt hôn nhân.

– Người chung sống với người khác như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 và đang chung sống như vợ chồng.

– Một số trường hợp kết hôn trái pháp luật nhưng Tòa án không huỷ khi có đơn yêu cầu.

Người không ở trong tình trạng đang có vợ, có chồng

Người không ở trong tình trạng đang có vợ, có chồng là người chưa kết hôn và không thuộc trường hợp được công nhận hôn nhân thực tế; người đã kết hôn những họ đã ly hôn hoặc vợ/chồng họ đã chết.

Có thể nói, mục đích pháp luật quy định cấm như vậy nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân tiến bộ của loài người và sự bền vững của hôn nhân. Việc vi phạm điều cấm này sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của vợ/chồng hợp pháp, ảnh hướng tới lối sống lành mạnh trong gia đình và xã hôi.

Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ

Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Theo quy định tại Điểm d, Khoản 2, Điều 5, Luật HN&GĐ 2014 quy định cấm kết hôn như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Cấm kết hôn giữa người cùng dòng máu trực hệ, có họ trong phạm vi ba đời.

Quy định này phù hợp với các nghiên cứu khoa học và truyền thống đạo đức của ông cha ta. Theo nghiên cứu y học, con cái của những cặp hôn nhân cận huyết sinh ra thường bị bệnh tật và những dị dạng (ví dụ: bệnh câm, điếc, bệnh tan máu bẩm sinh…) thậm chí có trường hợp con cái sẽ bị tử vong ngay sau khi sinh. Đây đang là nguyên nhân gây suy thoái chất lượng giống nòi; anh hưởng nghiêm trọng đến văn hóa, đạo đức gia đình, phá vỡ các mối quan hệ đang tồn tại giữa các dòng tộc, gia đình và làm xói mòn, biến đổi giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Nhận thức hậu quả của việc kết hôn giữa những người cận huyết, do đó, Luật HN&GĐ 2014 đã quy định việc kết hôn giữa người cùng dòng máu trực hệ, có quan hệ trong phạm vi ba đời vào trường hợp cấm.

Cấm kết hôn giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi, những người từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi; bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng

Quy định này nhằm làm ổn định các mối quan hệ trong gia đình, đồng thời ngăn chặn được hiện tượng lợi dụng mối quan hệ phụ thuộc mà có thể xảy ra hành vi cưỡng ép kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi. Do đó, Luật HN&GĐ 2014 tiếp tục kế thừa quy định này và có điểm tiến bộ hơn: Cấm kết hôn và chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng. Điểm mới này góp phần phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam và xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình lành mạnh, tiến bộ

Bài viết cùng chủ đề:

Điều kiện về giới tính khi kết hôn

Kết hôn là gì?

Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Trên đây là tư vấn của Ban biên tập luathonglinh về Khi nào cấm kết hôn? Phân tích chi tiết các trường hợp cấm kết hôn. Liên hệ luật sư để được tư vấn trực tiếp.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *