Khái quát chung về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Khái quát chung về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Từ điển Chính sách thương mại quốc tế định nghĩa Cartel là một thỏa thuận hạn chế chính thức hoặc không chính thức để đạt được kết quả có lợi cho các hãng liên quan, nhưng có thể có hại cho bên khác. Theo Luật mẫu thì thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (Cartel) là sự thống nhất cùng hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ sức ép cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành động một cách độc lập giữa các đối thủ cạnh tranh.

Dưới góc độ kinh tế học, hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được nhìn nhận là sự thống nhất cùng hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ sức ép của cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành động một cách độc lập giữa các đối thủ cạnh tranh.

Luật cạnh tranh 2018 của Việt Nam đã đưa ra định nghĩa về thỏa thuận HCCT tại khoản 4 Điều 3, theo đó: Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là hành vi thỏa thuận giữa các bên dưới mọi hình thức gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh”. Như vậy, một hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh gồm các cấu thành sau đây

– Tồn tại một thỏa thuận dưới bất kỳ hình thức nào: bằng văn bản hay thỏa thuận miệng, dưới dạng thức điện tử; công khai hoặc ngầm định;

– Việc thực hiện thỏa thuận đó gây tác động hoặc có khả năng gây tác động HCCT.

Tùy thuộc vào dạng thức và loại thỏa thuận HCCT (chẳng hạn, thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan hay giữa các doanh nghiệp kinh doanh ở các công đoạn khác nhau trong cùng một chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định) mà tác động hoặc khả năng gây tác động HCCT được đánh giá là “mặc nhiên” (per se rule) hoặc theo “nguyên tắc hợp lý” (rule of reason).

Khái quát chung về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Khái quát chung về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Bên cạnh việc đưa ra định nghĩa về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, Luật Cạnh tranh còn liệt kê các thỏa thuận bị coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Theo quy định tại Điều 11 Luật Cạnh tranh 2018, các thỏa thuận HCCT bao gồm:

  1. Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
  2. Thỏa thuận phân chia khách hàng, phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
  3. Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
  4. Thỏa thuận để một hoặc các bên tham gia thỏa thuận thắng thầu khi tham gia đấu thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
  5. Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh.
  6. Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên tham gia thỏa thuận.
  7. Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư.
  8. Thỏa thuận áp đặt hoặc ấn định điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho doanh nghiệp khác hoặc thỏa thuận buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng.
  9. Thỏa thuận không giao dịch với các bên không tham gia thỏa thuận.
  10. Thỏa thuận hạn chế thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ của các bên không tham gia thỏa thuận.
  11. Thỏa thuận khác gây tác động, có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh.

Như vậy, quy định về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh 2018 khác với quy định trong Luật Cạnh tranh 2004.

Trước đây, Luật Cạnh tranh 2004 liệt kê theo hướng đóng cứng, theo đó có 8 dạng hành vi trong Điều 8 được coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Nhưng Luật Cạnh tranh 2018 quy định mở, nghĩa là các thỏa thuận hợp tác khác tuy không được quy định cụ thể trong Luật nhưng vẫn có thể bị cấm nếu gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường.

Cách tiếp cận này có ưu điểm là đảm bảo tính linh hoạt của pháp luật cạnh tranh trước sự thay đổi không ngừng của các hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, quy định mở như vậy cũng dễ dẫn đến sự lúng túng trong áp dụng pháp luật đối với vụ việc cụ thể.

Dưới góc độ khoa học pháp lý có thể hiểu thỏa thuận hạn chế cạnh tranh “là sự thống nhất ý chí của từ 2 chủ thể kinh doanh trở lên được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào, có hậu quả làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường”

Tham khảo: Chuyên mục Nghiên cứu trao đổi

Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Trên đây là tư vấn của Ban biên tập luathonglinh về Khái quát chung về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Liên hệ luật sư để được tư vấn trực tiếp.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *