Khái niệm tội phạm ma túy trong ASEAN

Khái niệm tội phạm ma túy trong ASEAN

Ngay từ năm 1976 sau khi ký tuyên bố hòa hợp ASEAN (Bali Concord 1), các quốc gia ASEAN đã xác định nội dung hợp tác trọng tâm là ngăn chặn và chấm dứt nạn buôn bán ma túy trong khu vực. Tuyên bố ASEAN về những nguyên tắc chống sử dụng ma túy đã khẳng định rằng các quốc gia thành viên sẽ “tiến hành trao đổi thông tin và kinh nghiệm liên quan đến hoạt động buôn bán, sản xuất, trồng trọt các loại ma túy bất hợp pháp”. Đồng thời các quốc gia sẽ “hợp tác thực hiện các biện pháp pháp lý chống lại các loại tội phạm về ma túy” ( khoản 2 và khoản 5 điều III Bali Concord 1).

Sau nhiều năm nỗ lực xây dựng một cách tiếp cận chung đối với vấn đề ma túy, năm 2009 ASEAN thông qua kế hoạch công tác ASEAN về phòng, chống sản xuất, buôn bán và sử dụng ma túy trái pháp 2009 – 2015. Theo kế hoạch này, các quốc gia sẽ hành động để giảm thiểu cơ bản và bền vững việc sản xuất, buôn bán và sử dụng ma túy bất hợp pháp và các tội

liên quan ma túy, xóa bỏ các băng nhóm thực hiện buôn bán ma túy bất hợp pháp. Trong số

các biện pháp này có nhóm biện pháp thuốc phiện, cần sa và các cây trồng khác được sử dụng để sản xuất ma tuý và chất hướng thần ( đoạn 1.6); cải thiện hệ thống pháp luật quốc gia, thực hiện các quy định và cơ chế để ngăn chặn việc đưa các tiền chất ma túy vào lưu thông thương mại hợp pháp ( đoạn 1.9) ; tăng cường trao đổi thông tin giữa các cơ quan thực thi pháp luật và hợp tác tư pháp để nhận diện và điều tra các tổ chức tội phạm liên quan tới việc buôn bán các chất ma túy và chất hướng thần và mối liên hệ giữa các tổ chức này với các tội phạm hình sự khác .

Như vậy từ những quy định trên có thể thấy khái niệm tội phạm ma túy trong ASEAN đó là những hành vi liên quan đến việc trồng trọt, sản xuất, buôn bán, vận chuyển trái phép ma túy và các chất hướng thần.

Phân tích Khái niệm tội phạm ma túy trong ASEAN
Phân tích Khái niệm tội phạm ma túy trong ASEAN

Thực trang và bình luận về nghĩa vụ nội luật hóa các quy định của ASEAN về phòng chống tội phạm ma túy ở Việt Nam

Một trong những cam kết của các quốc gia thành viên trong Tuyên bố ASEAN về những nguyên tắc chống sử dụng ma túy là nội luật hóa các quy định của ASEAN. Theo đó, các quốc gia cam kết “ Cải thiện các quy định của pháp luật trong nước nhằm đẩy mạnh công

cuộc phòng chống lạm dụng ma túy và các tác hại của ma túy”. Các quốc gia ASEAN được cho là đã thực hiện khá tốt hoạt động này. Các hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép chất ma túy đều bị coi là tội phạm và được quy định trong các luật riêng về phòng chống tội phạm ma túy ( Thái Lan, Singapore, Myanmar, Philippines, Malaysia,

Indonesia, Campuchia) (nhóm 1) hoặc tích hợp trong bộ luật hình sự (Lào) (nhóm 2). tại Việt Nam mặc dù có luật phòng chống ma túy năm 2000 những luật này không tiếp nhận ma túy dưới góc độ tội phạm mà chủ yếu nhìn nhận ma túy là một vấn đề văn hóa – xã hội . Vì vậy, nhóm tác giả tạm xếp Việt Nam vào nhóm 2, nhóm tích hợp các quy định về tội phạm ma túy vào Bộ luật hình sự

Bộ luật hình sự (BLHS) đầu tiên của Việt Nam ra đời từ năm 1985. Bộ luật mà chỉ có một điều luật duy nhất duy định về tội sử dụng chất ma túy . Ngoài ra Bộ luật có thêm một điều khoản quy định chung về hàng cấm trong đó ma túy cũng được coi là một loại hàng cấm Trong lần sửa đổi, bổ sung năm 1989, Điều 96a quy định tội sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma túy đã được bổ sung vào Chương Các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia.

Tiếp đó, ướng ứng Tuyên bố chung về một ASEAN không ma túy, thực hiện nghĩa vụ “xem xét lại các quyết định liên quan đến buôn bán và sử dụng ma túy và thông qua các luật nghiêm khắc hơn về các tội phạm chống lại xã hội” trong lần sửa đổi, bổ sung năm 1997, BLHS có thêm một chương mới – Chương các tội phạm về ma túy với 14 điều luật quy định 13 tội danh khác nhau liên quan đến ma túy thay thế cho các điều luật đã nêu . Việc bổ sung một chương riêng dành cho tội phạm ma túy cho thấy tính caaos thiết của việc phòng, chống tội phạm này và những nỗ lực để thực hiện cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ ASEAN. Mới đây nhất, nhận thấy những bất cập trong thực tế liên quan đến định tội danh với từng loại tội phạm về ma túy và để phù hợp với thông lệ quốc tế, Bộ luật hình sự 2015 đã tách điều 194 Bộ luật hình sự 1999 quy định về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái

phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thanh 4 tội riêng biệt đó là tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 250; tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 252 Đồng thời, Bộ luật hình sự 2015 đã bổ sung việc xử lý vi phạm đối với việc buôn bán, vận chuyển các chất ma tuý mới như chất XLR – 11 (được tẩm ướp trong cỏ Mỹ) và lá cây Khat (có chứa chất ma túy Cathinone) vào cấu thành các tội phạm về ma túy (các Điều 248, 249, 250, 251,515).

Như vậy, Bộ luật hình sự Việt Nam sau 5 lần sửa đổi, bổ sung đã dần hoàn thiện các quy định liên quan đến tội phạm ma túy. Các cam kết của Việt Nam trong các thỏa thuận khu vực và quốc tế có vai trò không nhỏ đối với sự thay đổi này, trong đó có các thỏa thuận được ký kết trong khuôn khổ ASEAN. Những sửa đổi bổ sung liên quan đến tội phạm ma túy trong Bộ luật hình sự của Việt Nam đều được thực hiện ngay sau khi ASEAN đạt được các thỏa thuận và thông qua các văn kiện cụ thể về tội phạm ma túy. Đây chính là những minh chứng cho những nỗ lực của Việt Nam với tư cách là một thành viên tích cực trong các hoạt động của khu vực và quốc tế vì một mục tiêu chung là đưa ASEAN trở thành khu vực không có ma túy.

Về khung hình phạt: Việt Nam là một quốc gia áp dụng những hình phạt khá nghiêm khắc đối với các tội phạm về ma túy. Cùng với việc ghi nhận tội phạm ma túy tại một chương riêng trong Bộ luật Hình sự. Bộ luật hình sự năm 1999 của Việt Nam đã đưa ra khung hình phạt cao nhất là tử hình cho các tội danh sản xuất ma túy ( Điều 193), buôn bán ma túy ( Điều 153, 194), các tội phạm có tổ chức liên quan đến ma túy ( Điều 197). Bộ luật hình sự năm 2015 vẫn duy trì khung hình phạt tử hình với các tội sản xuất trái phép chất ma túy ( khoản 4 Điều 248), vận chuyển trái phép chất ma túy (khoản 4 Điều 250), tội mua bán trái phép chất ma túy ( Điều 251 , khoản 4) .

Như vậy đối với các tội phạm về ma túy mức án cao nhất dành cho nhóm tội này là từ hình, đấu tranh với tội phạm ma túy luôn được xác định là chính sách ưu tiên của các quốc gia Đông Nam Á nói chung và của Việt Nam nói riêng.

Từ những phân tích trên có thế thấy Việt Nam đã thực hiện khá tốt nghĩa vụ nội luật hóa các quy định của ASEAN về phòng chống tội phạm xuyên quốc gia đối với tội phạm ma túy.

Năm 2004 Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự giữa các quốc gia ASEAN (MLAT) được thành lập. Đến ngày 31/01/2013 Việt Nam trở thành thành viên của MLAT, tuy nhiên Việt Nam đã ban hành Luật Tương trợ tư pháp từ năm 2007 . Theo cam kết trong MLAT và quy định trong luật Tương trợ tư pháp Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan trung ương chịu trách nhiệm thực hiện các yêu cầu dẫn độ trong các vấn đề hình sự và Bộ Công an chịu trách nhiệm thực hiện các yêu cầu dẫn độ và chuyển giao người bị kết án phạt tù. Ngoài ra , Việt Nam cũng có kết các hiệp định tương trợ tư pháp song phương với 19 quốc gia ,

trong đó có Lào là quốc gia Đông Nam Á duy nhất. Từ năm 2010 đến năm 2015, Việt Nam nhận được 324 yêu cầu tương trợ tư pháp và đã gửi đi 316 yêu cầu tương trợ tư pháp. Nội dung yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự chủ yếu là thu nhập, cung cấp, cống đạt đài liệu, giấy tờ, chuyển giao, truy cứu trách nhiệm hình sự,.. liên quan đến các loại tội phạm nghiêm

trọng trong đó có mua bán trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, số liệu thống kê không theo từng loại tội cụ thể mà chỉ thống kê theo kết quả và quốc tịch của đương sự nên chưa có căn cứ để kết luận về hiện trạng tương trợ tư pháp hình sự trong ASEAN đối với tội phạm ma túy.

Về dẫn độ tội phạm Việt Nam chưa có văn bản riêng quy định về dẫn độ mà tích hợp những quy định này trong Luật Tương trợ tư pháp năm 2007. Song hiện nay Việt Nam cũng khá tích cực đàm phán các quy định về dẫn độ đàm phán các quy định về dẫn độ tội phạm

trong các hiệp định song phương theo hai hướng: một là đàm phán hiệp định về dẫn độ riêng hai là đưa những quy định về dẫn độ vào các hiệp định tương trợ tư pháp song phương. Đối với các quốc gia thành viên, Việt Nam đã ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp với Lào, trong đó có quy định về dẫn độ , đã đàm phán Hiệp định về dẫn độ với Indonesia nhưng chưa phê chuẩn hiệp định này.

Như vậy Việt Nam chưa có đạo luật riêng về dẫn độ, việc lồng ghép các quy định về

tương trợ tư pháp hình sự và dẫn độ tội phạm trong cùng một đạo luật sẽ không tạo được một khung pháp lý chặt chẽ giúp cho các cơ quan chức năng trong quá trình thực hiện các công

tác điều tra, truy tố, xét xử. Bên cạnh đó, việc thiếu, chậm trễ trong việc xây dựng các hiệp định tương trợ tư pháp hình sự và dẫn độ tội phạm với các quốc gia trong khu vực ASEAN cũng khiến cho các cơ quan chức năng gặp khó khăn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ vì “không có cơ sở pháp lý để hợp tác bắt giữ tội phạm nói chung và tội phạm ma túy nói riêng

khi bị truy nã” .Mặt khác, việc né tránh công khai đầy đủ số liệu về hai hoạt động này cả Việt Nam cũng là lý do công tác tổng kết, đánh giá, giám sát gặp nhiều khó khăn từ đó tác động không nhỉ đến hoạt động sửa đổi, bổ sung pháp lý cho hoạt động tương trợ tư pháp hình sự và dẫn độ tội phạm ma túy trong ASEAN.

Như đã phân tích ở trên nhận thấy quá trình sửa đổi , bổ sung và ban hành các văn bản pháp luật của Việt Nam vẫn còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu của tình tình mới đặc biệt là trong bối cảnh nhiều tiền chất ma túy để sản xuất ma túy trong hợp được đưa vào Việt Nam ngày càng nhiều vì vậy Việt Nam cần tích cực, chủ động cập nhật các thông tin về các chất ma túy mới, đồng thời sửa đổi các quy định hiện hành, nỗ lực hợp tác với các quốc gia láng giềng ASEAN trong lĩnh vực này.

Bài viết liên quan:

Cấu trúc của thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất ASEAN

Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Trên đây là tư vấn của Ban biên tập luathonglinh về Khái niệm tội phạm ma túy trong ASEAN. Liên hệ luật sư để được tư vấn trực tiếp.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *