Hợp đồng tín dụng là gì? Khái niệm hợp đồng tín dụng

Bài viết phân tích khái niệm hợp đồng tín dụng

Tín dụng là gì?

Tín dụng là một trong những chức năng cơ bản trong hoạt động của ngân hàng và các tổ chức tín dụng, được ra đời cùng với sự xuất hiện của tiền tệ. Tín dụng thực chất là quan hệ vay tiền tệ (thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay) nhằm đáp ứng các yêu cầu về vốn hoặc nhu cầu khác của các chủ thể trong đời sống kinh tế – xã hội. Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho vay cho người đi vay trong một thời gian nhất định.

Người đi vay có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hoá đã vay khi đến hạn trả nợ kèm theo một khoản lãi. Hoạt động cho vay được coi là một trong những hoạt động cơ bản, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng và tổ chức tín dụng. Hầu hết, trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, tổ chức tín dụng, thì hoạt động cho vay chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu.

Khái niệm hợp đồng tín dụng
Khái niệm hợp đồng tín dụng

Khái niệm hợp đồng tín dụng

Về nguyên tắc, khách hàng vay vốn của các ngân hàng, tổ chức tín dụng phải đảm bảo việc sử dụng vốn vay đúng mục đích và hoàn trả nợ gốc cùng lãi vốn vay đúng thời hạn như đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Đối với việc vay vốn dân sự hoặc thương mại thông thường, thì hầu như bên cho vay không quan tâm đến mục đích sử dụng vốn vay, trong khi đó, đối với hợp đồng tín dụng thì lại là một trong những điều kiện quan trọng nhất. Trong cả thời hạn vay vốn, nếu bên vay sử dụng vốn vay không đúng mục đích đã thỏa thuận, thì ngân hàng, tổ chức tín dụng có thể được quyền chấm dứt hợp đồng, phạt vi phạm và thu hồi nợ trước hạn. Đó là quy định đồng thời là điều quan tâm hàng đầu của các ngân hàng, tổ chức tín dụng trong nghiệp vụ xét duyệt và quản lý các khoản vay. Để bảo đảm được việc sử dụng vốn vay đúng mục đích và việc trả nợ đúng hạn, ngân hàng được quyền kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay và trả nợ.

Đây cũng là điều hầu như không xuất hiện trong các hợp đồng vay vốn trong các quan hệ giữa cá nhân và các doanh nghiệp. Các ngân hàng, tổ chức tín dụng chỉ xem xét và quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện như:

– Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật; 

– Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp

– Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết; 

– Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật;

Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Hợp đồng tín dụng là một dạng cụ thể của hợp đồng vay tài sản được quy định trong Bộ luật Dân sự. Theo pháp luật dân sự, hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, bên cho vay giao tài sản cho bên vay, khi đến thời hạn hoàn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Các yêu cầu chung đối với một hợp đồng vay tài sản được xác định là:

Hình thức của hợp đồng vay tài sản do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật quy định bắt buộc phải lập thành văn bản;

Đối tượng của hợp đồng vay tài sản có thể là tiền hoặc tài sản cụ thể (vật); 

Các bên có thể thỏa thuận về lãi suất trong hợp đồng vay tài sản và nằm trong giới hạn nếu pháp luật có quy định; 

Các bên có thể thỏa thuận về yêu cầu bồi thường thiệt hại trong trường hợp có vi phạm hợp đồng.

Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, nhưng là cho vay trực tiếp, nó khác các hình thức cấp tín dụng khác (cho vay gian tiếp) như: Chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng… Hợp đồng tín dụng là căn cứ pháp lý để các các ngân hàng và tổ chức tín dụng tiến hành các hoạt động cho vay tiền tệ. Hợp đồng tín dụng chỉ đồng thời là hợp đồng cấp tín dụng khi thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng cho vay. Hợp đồng tín dụng không đồng nghĩa với hợp đồng cấp tín dụng khác như: Chiết khấu (hình thành hợp đồng chiết khấu/hoặc tái chiết khấu); cho thuê tài chính (hình thành hợp đồng cho thuê tài chính); bao thanh toán (hình thành hợp đồng bao thanh toán); bảo lãnh ngân hàng (hình thành hợp đồng cấp bảo lãnh/hợp đồng bảo lãnh ngân hàng) và các hợp đồng cấp tín dụng khác. Bên cạnh việc chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự, với tư cách là một hợp đồng chuyên ngành về tín dụng ngân hàng, nên nó còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật về tín dụng ngân hàng.

Từ các yêu cầu và phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm hợp đồng tín dụng như sau:

Hợp đồng tín dụng là hợp đồng cho vay có sự thỏa thuận của các bên, theo đó, bên cho vay là ngân hàng thương mại hoặc tổ chức tín dụng giao cho bên vay là các chủ thể có đủ điều kiện được vay vốn một khoản tiền nhất định để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời hạn nhất định với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi 

Bài viết cùng chủ đề:

Hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng đơn vụ hay song vụ?

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *