Đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản là gì?

Đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản

Cơ sở để các văn bản pháp luật không thừa nhận tặng cho tài sản hình thành trong tương lai xuất phát từ tính chất thực tế của loại hợp đồng này. Tại thời điểm giao nhận tài sản, tài sản tặng cho phải được hình thành, hiện hữu thì bên tặng cho mới có thể thực hiện được hành vi chuyển giao tài sản. Các nhận định này chỉ đúng và phù hợp khi BLDS năm 2015 chưa có hiệu lực thi hành bởi khoản 1 Điều 458 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Theo quy định này, bên tặng cho và bên được tặng cho được quyền thỏa thuận về thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản khác với thời điểm giao, nhận tài sản tặng cho. Do đó, các bên hoàn toàn có quyền thỏa thuận hợp đồng tặng cho tài sản phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm giao kết mà khi đó tài sản tặng cho đang là tài sản hình thành trong tương lai; còn việc chuyển giao tài sản tặng cho được thực hiện khi tài sản đã hiện hữu trên thực tế.

Đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản là gì?
Đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản là gì?

Điều kiện để trở thành đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản

Để trở thành đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản thì tài sản phải thỏa mãn các điều kiện sau đây:

Tài sản tặng cho phải được phép giao dịch

Các chủ thể được toàn quyền tặng cho tài sản tự do lưu thông mà không phải chịu bất kì hạn chế nào của pháp luật. Khi các bên xác lập hợp đồng tặng cho tài sản với tài sản hạn chế lưu thông thì cần tuân thủ các điều kiện theo quy định của luật (như tặng cho ngoại tệ). Còn đối với tài sản cấm lưu thông như ma túy, vũ khí,…thì các bên chủ thể không được phép tặng cho. Trường hợp các bên tặng cho tài sản cấm lưu thông thì hợp đồng tặng cho tài sản bị vô hiệu tuyệt đối; không phát sinh hiệu lực giữa bên tặng cho và bên được tặng cho.

Tài sản tặng cho phải thuộc sở hữu của người tặng cho tài sản

Mục đích của hợp đồng tặng cho tài sản nhằm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản. Do vậy, chỉ chủ sở hữu tài sản mới có quyền định đoạt tài sản thông qua phương thức tặng cho. Trường hợp một người tặng cho tài sản của người khác khi không được sự đồng ý của người đó thì họ đã xâm phạm đến quyền sở hữu của chủ tài sản và phải chịu các trách nhiệm pháp lý. Việc xác minh tài sản tặng cho thuộc sở hữu của bên tặng cho được thực hiện như sau:

– Đối với tài sản phải đăng ký sở hữu như QSDĐ, nhà ở, ô tô, xe máy, tàu thuyền…bên được tặng cho cần căn cứ vào các thông tin trên giấy tờ chứng nhận sở hữu (giấy chứng nhận QSDĐ, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; đăng ký xe mô tô, ô tô…) để xác định tư cách sở hữu của bên tặng cho tài sản;

– Đối với tài sản không phải đăng ký sở hữu: khi xác lập hợp đồng tặng cho tài sản với tài sản không đăng ký sở hữu thì vệc xác định chủ sở hữu thường dựa trên cơ sở suy đoán. Thông thường, người đang chiếm hữu tài sản trên thực tế được suy đoán là chủ sở hữu tài sản. Việc suy đoán có thể dẫn tới hậu quả tài sản tặng cho không thuộc sở hữu của bên tặng cho. Người tặng cho có thể biết hoặc không biết về việc tài sản tặng cho không thuộc sở hữu của họ. Tùy từng trường hợp mà sẽ có cách thức giải quyết tương ứng đối với tài sản tặng cho.

Bài viết cùng chủ đề:

Hợp đồng tặng cho tài sản là gì?

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *