Điều kiện về giới tính khi kết hôn (phân tích chi tiết)

Điều kiện về giới tính khi kết hôn

Hôn nhân là sự liên kết giữa một người nam và một người nữ nhằm xây dựng gia đình. Gia đình phải thực hiện các chức năng xã hội của nó. Một trong những chức năng đó là chức năng sinh đẻ nhằm duy trì và phát triển nòi giống. Như vậy, chỉ những người khác giới tính kết hôn với nhau thì mới có thể cùng nhau thực hiện chức năng cơ bản của gia đình là sinh đẻ, tái sản xuất ra con người để duy trì nòi giống. Nếu hai người cùng giới tính kết hôn với nhau thì trái với quy luật tự nhiên và quy luật xã hội.

Từ đó, Khoản 5, Điều 10 Luật HN&GĐ 2000 quy định cấm kết hôn “giữa những người cùng giới tính” còn Khoản 2, Điều 8 Luật HN&GĐ 2014 quy định “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”. Tức là, Nhà nước sẽ không công nhận mối quan hệ hôn nhân của những người cùng giới tính là hợp pháp, không chấp nhận cho họ làm thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Những người cùng giới có thể làm lễ cưới, thực hiện các nghi thức kết hôn như những cặp đôi nam nữ bình thường khác tuy nhiên pháp luật lại không công nhận mối quan hệ của họ là hôn nhân hợp pháp, việc họ ăn ở chung với nhau không làm phát sinh quyền, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm như vợ chồng hợp pháp có đăng ký kết hôn.

Cách duy nhất giải quyết được sự bế tắc cho tình trạng hôn nhân đồng giới là một bên làm thủ tục chuyển đổi giới tính để hợp pháp hoá việc kết hôn. Căn cứ quy định tại Điều 37 BLDS 2015: “Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật. Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan”. Như vậy, một bên sau khi đã chuyển đổi giới tính, cải chính lại hộ tịch thì hoàn toàn có đủ điều kiện làm thủ tục đăng ký kết hôn với “một nửa” kia của mình theo đúng quy định của pháp luật.

Điều kiện về giới tính khi kết hôn (phân tích chi tiết)
Điều kiện về giới tính khi kết hôn (phân tích chi tiết)

Điều kiện về nhận thức khi kết hôn

Điểm c, Khoản 1, Điều 8 Luật HN&GĐ 2014 quy định nam, nữ khi kết hôn phải là người không bị mất năng lực hành vi dân sự.

Căn cứ Điều 19 BLDS 2015 quy định: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.”

Căn cứ Đoạn 1, Khoản 1, Điều 22 BLDS 2015 quy định: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.”

Như vậy, một người bị coi là mất NLHVDS khi người đó mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi và đã bị Tòa án tuyên bố là người mất năng lực hành vi dân sự. Và do đó, ta có thể thấy, người mất NLHVDS sẽ không thể bày tỏ ý chí của mình một cách đầy đủ được, không đảm bảo được yếu tố tự nguyện trong việc kết hôn. Hơn nữa, nếu hôn nhân có hiệu lực pháp luật, họ cũng sẽ không làm tròn trách nhiệm của người cha, người mẹ, người vợ, người chồng trong gia đình và trách nhiệm với xã hội. Vậy nên, pháp luật quy định những người này không được phép kết hôn là hoàn toàn hợp lý.

Bài viết cùng chủ đề:

Tự nguyện kết hôn là gì?

Bao nhiêu tuổi thì được kết hôn

Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Trên đây là tư vấn của Ban biên tập luathonglinh về Điều kiện về giới tính khi kết hôn (phân tích chi tiết). Liên hệ luật sư để được tư vấn trực tiếp.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *