Phân tích đặc điểm quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

Nhìn từ yêu cầu phát triển doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế cho thấy quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế có những đặc điểm cơ bản sau đây:

Đặc điểm quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

(1)  Nhà nước ta thực hiện chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần và mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật. Như vậy việc tiếp cận đất đai cho hoạt động sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử. Điều này thể hiện:

(2) trong thị trường sơ cấp về quyền sử dụng đất. Việc tiếp cận đất đai của tổ chức kinh tế chuyển từ hình thức giao đất là chủ yếu trước đây sang hình thức Nhà nước cho thuê đất là chủ yếu hiện nay. Điều này sẽ khắc phục được sự “xin – cho” của hình thức giao đất, tiềm ẩn nguy cơ tham nhũng tiêu cực sang hình thức cho thuê đất theo hợp đồng có tính thỏa thuận hơn.

(3) Việc giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức kinh tế ở thị trường quyền sử dụng đất sơ cấp phải đảm bảo sự công khai minh bạch từ các quy định về căn cứ, điều kiện, hình thức giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất đến thẩm quyền và trình tự, thủ tục thực hiện v.v nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận đất đai. Những thông tin, nội dung quy định của pháp luật về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất được niêm yết công khai tại trụ sở các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai, công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng và trên cổng thông tin điện tử (website) v.v… của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tổ chức kinh tế dễ dàng truy cập, tra cứu.

Phân tích đặc điểm quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế
Phân tích đặc điểm quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

(4) Xây dựng bộ chỉ số ISO nhằm đánh giá mang tính “định lượng” về cải cách thủ tục hành chính về đất đai nói chung và về thủ tục giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất nói riêng đối với tổ chức kinh tế; đồng thời, tạo công cụ pháp lý để tăng cường sự giám sát của tổ chức kinh tế và người dân đối với hoạt động giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất của các cơ quan công quyền. Hơn nữa, xác lập mối quan hệ tham vấn, đối thoại giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất với các tổ chức kinh tế để trao đổi, chia sẻ thông tin, tiếp nhận những phản hồi, góp ý và giải đáp kịp thời những thắc mắc, kiến nghị phát sinh trong quá trình sử dụng đất.

(5) Bên cạnh việc tiếp cận đất đai của tổ chức kinh tế thông qua việc Nhà nước giao đất, cho thuê đất trên thị trường quyền sử dụng đất sơ cấp (thị trường phát sinh mối quan hệ đất đai giữa Nhà nước – đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai – với tổ chức kinh tế) thì nền kinh tế thị trường đòi hỏi Nhà nước phải tạo thêm các kênh tiếp cận đất đai đáp ứng những quy luật khách quan của kinh tế thị trường thông qua việc ghi nhận và bảo hộ bằng pháp luật quyền nhận chuyển nhượng, thuê lại, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất v.v… của tổ chức kinh tế trên thị trường quyền sử dụng đất thứ cấp (thị trường phát sinh giữa tổ chức kinh tế với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất). Điều này có nghĩa là tổ chức kinh tế không chỉ tiếp cận đất đai cho nhu cầu sản xuất – kinh doanh thông qua Nhà nước giao đất, cho thuê đất mà còn giải quyết bài toán đất đai cho nhu cầu sản xuất – kinh doanh bằng việc thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất.

(6)  Quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế được pháp luật ghi nhận và bảo hộ thông qua việc được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là quyền sử dụng đất). Đây là một bảo đảm pháp lý đối với quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế. Họ chỉ bị mất quyền sử dụng đất thông qua cơ chế hành chính nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng – an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia công cộng theo quy định của pháp luật và được bồi thường về đất và bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất.

(7) Quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế được xác định là một loại quyền về tài sản cho dù Hiến pháp năm 2013 chưa chính thức ghi nhận song các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 và các quy định của Luật đất đai năm 2013 đã thể hiện điều này. Theo đó, quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế không chỉ mang ý nghĩa thuần túy là quyền khai thác các thuộc tính, công dụng có ích của đất đai để mang lại một lợi ích vật chất và là một quyền năng của chủ sở hữu đất đai được hình thành trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai song nó lại mang tính độc lập tương đối nhất định. Điều này thể hiện quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế được xác định giá trị khi doanh nghiệp nhà nước tiến hành cổ phần hóa. Nó được đem ra trao đổi, chuyển nhượng, cho thuê trên thị trường, được sử dụng như một tài sản đảm bảo trong quan hệ vay vốn của tổ chức kinh tế với các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng tại Việt Nam; đồng thời, được đem góp vốn trong liên doanh, liên kết, hợp tác đầu tư với các đối tác trong và ngoài nước.

Bài viết liên quan:

Tổ chức kinh tế là gì?

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *