Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai nhìn từ góc độ phát triển kinh tế thị trường

Tại Việt Nam, do có sự đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai thông qua một trong những phương thức là giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Do đó, tiếp cận đất đai của tổ chức kinh tế cũng được thực hiện thông qua việc Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế trong sử dụng đất chịu tác động của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.

Trong nền kinh tế thị trường, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai có sự điều chỉnh nhằm đáp ứng các quy luật khách quan. Điều này được xem xét thông qua sự tác động của cơ chế quản lý kinh tế đến quan hệ quản lý và sử dụng đất đai.

1. Chế độ sở hữu đất đai của Việt Nam thời kỳ trước năm 1986

Với cơ chế quản lý kinh tế mang những đặc trưng như trên thì đất đai, các tư liệu sản xuất khác và sức lao động dường như không có giá trị. Tổ chức kinh tế sử dụng đất không được quyền làm chủ thực sự đối với đất đai. Các quyền và nghĩa vụ của họ bị ràng buộc chặt chẽ trong mối quan hệ hành chính với Nhà nước (quan hệ cấp đất- thu hồi đất). Cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung chi phối quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế.

Về đối tượng tham gia quan hệ sử dụng đất:Trong mô hình kinh tế nhà nước tập trung khuyến khích phát triển hai thành phần kinh tế: Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Còn các thành phần kinh tế khác chưa được Nhà nước nhìn nhận đúng với vị trí và vai trò của nó. Pháp luật ở thời kỳ này quy định chủ yếu quyền và nghĩa vụ cho các tổ chức kinh tế sử dụng đất đai bao gồm các xí nghiệp, nhà máy, các nông, lâm trường quốc doanh, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất và tổ chức kinh tế khác của Nhà nước. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dường như chưa được pháp luật đề cập đến.

Cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung đã tách người lao động khỏi đất đai và các tư liệu sản xuất khác. Họ không được quyền làm chủ thực sự đối với đất đai. Pháp luật chưa quy định cụ thể quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài cho tổ chức kinh tế sử dụng đất. Các giao dịch đất đai ở thời kỳ này ít về mặt số lượng và chủ yếu là các giao dịch dân sự về mua bán, chuyển nhượng nhà ở, vật kiến trúc khác gắn liền với đất ở, hoặc các giao dịch về đổi đất nông nghiệp giữa hộ gia đình xã viên với hợp tác xã, tập đoàn sản xuất chứ không có giao dịch đất đai do tổ chức kinh tế thực hiện.

Cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung chưa coi trọng đúng mức lợi ích của tổ chức kinh tế sử dụng đất và không khuyến khích sự năng động sáng tạo của người lao động. Cơ chế quản lý kinh tế này chưa thực sự tạo điều kiện cho tổ chức kinh tế sử dụng đất thực hiện các giao dịch đất đai. Quan hệ đất đai “đóng khung” trong mối quan hệ “cấp đất – thu hồi đất” mang tính chất mệnh lệnh, hành chính. Hơn nữa, cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung dường như đã làm cho cả Nhà nước và tổ chức kinh tế sử dụng đất chưa thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc quy định và bảo đảm thực hiện các quyền, nghĩa vụ của tổ chức kinh tế sử dụng đất trong các giao dịch đất đai. Điều này thể hiện ở hai khía cạnh:

– Nhà nước dường như chưa thấy được sự cần thiết phải củng cố và hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế sử dụng đất trong các giao dịch đất đai;

– Bản thân tổ chức kinh tế sử dụng đất cũng chưa nhận thức được những lợi ích do việc mở rộng và thực hiện các quyền sử dụng đất trong giao dịch đất đai mang lại. Hậu quả là đất đai giao cho tổ chức kinh tế chủ yếu theo hình thức không thu tiền sử dụng đất được sử dụng lãng phí, kém hiệu quả, bỏ hoang, hóa hoặc tự chia cấp một phần đất cho người lao động trong tổ chức kinh tế sử dụng vào mục đích xây dựng nhà ở…

Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai nhìn từ góc độ phát triển kinh tế thị trường (ảnh minh họa)
Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai nhìn từ góc độ phát triển kinh tế thị trường (ảnh minh họa)

2. Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai kể từ khi đất nước chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường

Kể từ khi đất nước ta chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, đã làm thay đổi hoàn toàn các quan hệ kinh tế nói chung và quan hệ đất đai nói riêng.

Cơ chế kinh tế thị trường có những đặc trưng cơ bản như sau:

– Nhà nước chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trong đó thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể giữ vai trò chủ đạo.

– Nhà nước quản lý nền kinh tế thông qua các công cụ pháp luật, thuế v.v… và xóa bỏ hoàn toàn chế độ cấp phát và giao nộp mang tính chất bao cấp theo quan hệ hiện vật. Nhà nước tách bạch chức năng quản lý nhà nước với chức năng quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh, mở rộng quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh cho doanh nghiệp.

– Quy luật giá trị, hiệu quả kinh tế tác động, chi phối mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của xã hội và trở thành một yếu tố không thể thiếu được của quan hệ kinh tế.

– Các giá trị như đất đai, sức lao động, chất xám và các tư liệu sản xuất khác được coi là hàng hóa và được phép trao đổi trên thị trường.

Bên cạnh những ưu điểm, cơ chế kinh tế thị trường cũng bộc lộ các khuyết tật của nó, chính vì vậy sự chi phối của cơ chế này đến lĩnh vực đất đai nói chung và quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế sử dụng đất nói riêng cũng bao hàm cả hai phương diện tích cực và tiêu cực.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *