Các nguyên tắc của Bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật (Chi tiết)

1.Nguyên tắc Người khuyết tật có quyền được hưởng bảo trợ xã hội không có sự phân biệt theo tiêu chí nào

Xuất phát từ việc đảm bảo con người được quy định  trong pháp luật quốc tê, các quốc . ,gia đều nhận thức rõ vấn đề  và ghi nhận quyền baotr trợ xã hội cho công dân trong văn bản pháp luật mỗi quốc  gia. Đói với người khuyết tật, quyền  hưởng trợ cấp xã hội tại điều 67 Hiến pháp và cụ thể hóa trong các văn bản luật và văn bản dưới luật…Nguyên tắc thực hiện quyền hưởng bảo trợ xã hội cho người khuyết tật không có sự phân biệt theo tiêu chí nào cũng chính là nguyên tắc cơ bản của Luật an sinh xã hội. Nội dung nguyên tắc được thể hiện quy định phạm vi  và đối tượng áp dụng. Theo đó mọi thành viên trong xã hội bị khuyết tật có quyền hưởng bảo trợ xã hội mà không có sựu phan biệt về địa vị, kinh tế, tôn giáo, giới tính, thành phần xã hội…Nói cách khác, rủi khuyết tật không loại trừ ai với tư cách là thành viên trong cộng đồng bất kể họ có sức khỏe, kinh tế hay công việc, vì vậy  sự phân biệt theo tiêu chí náo để loại loại bỏ quyền hưởng bảo trợ xã hội  của người khuyết tật đều là bất hợp lý. Mặc dù vậy, đảm bảo thực hiện quyền này còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia khác nhau, thâm j chí phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển khác nhau của từng quốc gia. Hơn nữa, cũng không thể coi trợ cấp xã hội là một sự ban ơn đơn thuần … mà cần đảm bảo công bằng cho đối tượng thụ hưởng có tính đến mức độ rủi ro khuyết tật. Vì vậy, pháp luật quy định cụ thể về điều kiện hưởng, mức lương các khoản trợ cấp, hỗ trợ nguwowigf khuyết tật đảm bảo công bằng và phù hợp với từng giai đoạn phát triển nhất định. Điều này lý giải Pcho thực tế là mặc dù quyền hưởng bảo trợ xã hội  cho người khuyết tật áp dụng cho tất cả đối tượng, không có sự phân biệt theo tiêu chí nào, nhưng để được hưởng các khoản trợ cấp , hỗ trợ của hệ thống bảo trợ xã hội phải đảm bảo các điều kiện cụ thể.2.Nguyên tắc: “Mức trợ cấp bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật không phụ thuộc vào sự đóng góp, thu nhập hoặc mức sống của họ mà chủ yếu phụ thuộc vào mức độ khuyết tật và nhu cầu thực tế của đối tượng”.

Xuất phát từ nguyên nhân rủi ro là những khiếm khuyết về sức khỏe khiến nhiều NKT có những hạn chế nhất định so với những đối tượng khác trong cộng đồng, thậm chí, họ còn khó khăn trong việc đảm bảo sự tồn tại. Những rủi ro này có thể xuất hiện ngay từ khi họ sinh ra hoặc trong quá trình sống, vì vậy, đòi hỏi một khoản tích lũy đóng góp hay nghĩa vụ tài chính nào cho phần phụ hưởng trợ cấp sẽ khiến khoản trợ cấp này không còn vai trò “lưới đỡ” cuối cùng của người dân cho sự tồn tại và không còn ý nghĩa đảm bảo quyền sống của con người, đảm bảo phân phối lại lợi ích xã hội. Chỉ trong trường hợp cuộc sống thường nhật của họ bị đe dọa, hoặc cần có sự giúp đỡ, hỗ trợ để tồn tại, vấn đề trợ cấp mới được đặt ra. Với mục đích không nhằm bù đắp hoặc thay thế thu nhập của đối tượng hay đảm bảo đời sống cho NKT với những yêu cầu định trước mà chỉ nhằm giúp đỡ, hỗ trợ cho đối tượng thoát khỏi tình trạng cuộc sống thường nhật bị đe dọa, tạo cơ hội cho họ vươn lên khắc phục rủi ro, hòa nhập cộng đồng, do vậy, các khoản trợ cấp BTXH cho NKT không gắn với bất cứ yêu cầu gì về nghĩa vụ tài chính cho việc thụ hưởng. Nói cách khác, để được hưởng trợ cấp BTXH, NKT không phải đóng góp tài chính đồng thời, mức thu nhập, mức sống của họ trước khi bị khuyết tật cũng không phải là tiêu chí xác định mức hưởng. Không phải trước khi bị khuyết tật, đối tượng nào có thu nhập cao, mức sống cao hơn thì hưởng trợ cấp cao hơn và ngược lại. Tiêu chí quan trọng để xác định mức hưởng trợ cấp cho NKT chính là mức độ rủi ro khuyết tật và hoàn cảnh sống thực tế của NKT. Chẳng hạn, với những mức độ khuyết tật khác nhau như nặng, đặc biệt nặng, khuyết tật trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ khuyết tật mang thai… hay thậm chí có cùng mức độ khuyết tật nhưng hoàn cảnh sống có sự khác nhau nhất định như có người chăm sóc, kinh tế gia đình khá giả hay không cũng là những căn cứ quan trọng để xác định mức trợ cấp, hỗ trợ cho phù hợp. Điều này phù hợp với ý nghĩa, mục đích của trợ cấp và đảm bảo công bằng cho người thụ hưởng.

3.Nguyên tắc thực hiện bảo trợ xã hội cân đối giữa nhu cầu thực tế của người khuyết tật và phù hợp với khả năng đáp ứng của điều kiện kinh tế xã hội

Nhu cầu BTXH của NKT và khả năng đáp ứng của điều kiện kinh tế xã hội là một bài toán mà hầu hết các quốc gia phải cân đối trong tương quan đảm bảo quyền của NKT và giải quyết các vấn đề xã hội, phát triển kinh tế. Thực tế cho thấy, với những đặc điểm riêng khác nhau mà số lượng và nhu cầu bảo trợ của NKT ở các quốc gia khác nhau có sự khác nhau nhất định. Ở Việt Nam, với tỉ lệ đối tượng NKT chiếm tới hơn 6% dân số cả nước, cộng với điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn khiến nhu cầu trợ giúp cho NKT là rất lớn. Để đảm bảo thực hiện BTXH cho NKT có hiệu quả, cần phải xác định được cụ thể nhu cầu của NKT và được chuyển tải bằng điều kiện hưởng trong các khoản trợ cấp, hỗ trợ. Nhu cầu này phải được đặt trong tương quan chung của điều kiện kinh tế xã hội với mức sống của người dân. Việc đáp ứng nhu cầu bảo trợ của NKT phải được tính toán cân đối với khả năng đáp ứng và điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia trong từng giai đoạn, nếu không sẽ không đạt được mục đích của BTXH và ảnh hưởng đến các chính sách kinh tế khác. Nếu trợ cấp quá cao so với khả năng đáp ứng thì thiếu tính khả thi, khó đảm bảo duy trì thực hiện và nếu thực hiện được, có thể sẽ tạo tâm lí ỷ lại, trông chờ vào nguồn tài chính trợ giúp, làm cản trở ý thức vươn lên, phát huy nội lực và kìm hãm sức phát triển của các cơ chế bảo vệ khác. Ngược lại, nếu mức trợ cấp, hỗ trợ cho NKT quá thấp sẽ không đảm bảo được ý nghĩa và mục đích của BTXH bởi xét cho cùng, đây là “lưới đỡ” kinh tế cận kề nhất với cuộc sống của NKT và cũng thể hiện rõ nét nhất thái độ của Nhà nước đối với nhóm người “yếu thế” trong xã hội. Mặc dù vậy, về cơ bản, việc cân đối giữa nhu cầu của NKT và khả năng đáp ứng của điều kiện kinh tế cũng phải hướng tới yêu cầu đảm bảo nhu cầu tối thiểu cần thiết nhằm duy trì cuộc sống cho NKT trước những khó khăn cuộc sống.

4.Nguyên tắc đa dạng hóa, xã hội  hóa hoạt động bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật , phát huy khả năng vươn lên hòa nhập cộng đồng.

Nguyên nhân rủi ro dẫn đến tình trạng khuyết tật của con người là đa dạng vì vậy việc thực hiện bảo trợ đối với họ cũng cần xem xet mức độ , hình thức và biện pháp hợp lý. ở phạm vi hẹp, bảo trợ xã hội cho người khuyết tật với những khoản trợ cấp, hỗ trợ nuôi dưỡng  được thực hiện chủ yếu bằng tiền hoặc hiện vật đáp ứng nhu cầu tối thiểu cuộc sống, song cần phát huy đa dạng các hình thức, biện pháp, bảo trợ nâng đỡ tinh thần, tâm lý chăm sóc sức khỏe…Thông qua những hoạt động bảo trợ này đối tượng xóa đi mặc cảm, tạo cơ hội tự tin cho họ hòa nhập cộng đồng, phát huy những khả năng vươn lên đảm bảo cuộc sống. Thậm chí từ cách tiếp cận mới mẻ về người khuyết tật, hiện đang hướng tới nhìn nhận người khuyết tật như một đa dạng đối tượng xã hội, là nguồn nhân lực tiềm ẩn cần có sự hỗ trợ khai thác. Từ việc xác định trách nhiệm chính của nhà nước đối với cuộc sống người khuyết tật thông qua các khoản trợ cấp, hỗ trợ tài chính công, nhà nước cũng huy động sự tham gia của cộng đồng và bản thân người khuyết tật. Mỗi cá nhân trong cộng đồng đều có trách nhiệm với các thành viên khác  và với chính mình trên cơ sở thương yêu đùm bọc, che chở lẫn nhau. Đay là nên tảng của xã hội hóa hoạt động bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật. Trong điều kiện  hiện nay, việc xã hội thực hiện bảo trợ xã hội đối vơi người khuyết tật được nhìn nhận theo hướng tiến bộ. Không bảo trợ cho người khuyết tật chỉ dừng lại ở những khoản trợ cấp do nhà nước thực hiện mang tính ban phát, bao cấp mà hướng tới việc huy động nguồn lực và sự quan tâm của cả cộng đồng nhằm đưa đến sự bảo vệ cao nhất cho người khuyết tật. Điều này thể hiện hoạt động của các hiệp hội từ thiện, các trung tâm bảo trợ chăm sóc người khuyết tật… và mô hình chăm sóc thay thế hiện đang thu hút sự quan tâm của cả cộng đồng

Đánh giá bài viết

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *