Khái niệm bình đẳng giữa các doanh nghiệp

Bình đẳng giữa các doanh nghiệp

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế tồn tại cùng với các quan hệ kinh doanh. Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và thị trường là biểu hiện mối quan hệ hàng hóa, tiền tệ. Đây là mối quan hệ theo chiều ngang giữa doanh nghiệp với thị trường, mang tính chất bình đẳng. Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp cạnh tranh nhằm tối đa hóa lợi nhuận có thể làm xuất hiện những doanh nghiệp có sức mạnh, chèn ép, thôn tính doanh nghiệp khác, tạo ra bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa, sự vận động tự nhiên của thị trường không thể bảo đảm được cạnh tranh bình đẳng.

Vì thế đòi hỏi nhà nước phải thiết lập được những giới hạn để bảo đảm doanh nghiệp có quy mô lớn hay nhỏ, mới tham gia thị trường hay đã có nhiều năm kinh nghiệm đều có thể cạnh tranh bình đẳng trên thị trường. Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp là mối quan hệ thị trường, chỉ thực sự phản ánh đúng bản chất hàng hóa – tiền tệ khi nhà nước tạo ra những khuôn khổ cho doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng. Như vậy, khi bản thân thị trường và doanh nghiệp không tự giải quyết được vấn đề của họ thì nhà nước xuất hiện để thực hiện vai trò và chức năng của mình.

Do đó, về mặt khách quan, vấn đề quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp chỉ có thể được đảm bảo bằng các thiết chế của nhà nước. Mối quan hệ giữa nhà nước với các doanh nghiệp là mối quan hệ theo chiều dọc, tức là quan hệ giữa nhà nước với tư cách là cơ quan quyền lực, xây dựng và thực thi pháp luật với doanh nghiệp với tư cách là chủ thể tồn tại trong xã hội. Quan hệ giữa nhà nước với doanh nghiệp là mối quan hệ không bình đẳng, theo đó nhà nước sử dụng quyền lực của mình để điều hành các doanh nghiệp, đảm bảo cho họ chấp hành, tuân thủ pháp luật.

Khái niệm bình đẳng giữa các doanh nghiệp (ảnh minh họa)
Khái niệm bình đẳng giữa các doanh nghiệp (ảnh minh họa)

Chính vì vậy, nội dung của các quy định pháp luật là một trong những yếu tố cơ bản bảo đảm quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Ở Việt Nam, pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp không tạo thành một chế định độc lập mà là tập hợp các quy định pháp luật được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như Hiến pháp, các đạo luật, nghị định và thông tư hướng dẫn. Có thể đưa ra khái niệm pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp như sau:

Pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp theo nguyên tắc mọi doanh nghiệp đều có quyền và nghĩa vụ như nhau, tương xứng với những đóng góp là lợi ích, những vi phạm là trách nhiệm của doanh nghiệp.

Nội dung pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp được xây dựng trên cơ sở nội dung của quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp, bao gồm:

– Các quy định về nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp.

– Các quy định về phạm vi bảo đảm quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp, bao gồm bình đẳng trong ĐKDN, bình đẳng trong kinh doanh và trong giải thể, phá sản doanh nghiệp.

– Các quy định về sự bình đẳng trong việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật do doanh nghiệp gây ra. Theo đó, việc xử lý các vi phạm dựa trên cơ sở của hành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp, không căn cứ vào tính chất sở hữu hay loại hình doanh nghiệp. Mọi doanh nghiệp đều bị phạt hành chính như nhau, chịu trách nhiệm bồi thường vật chất như nhau khi mức độ vi phạm giống nhau.

– Các quy định về sự bình đẳng trong sử dụng các biện pháp pháp lý để doanh nghiệp tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tức là, doanh nghiệp có quyền như nhau trong lựa chọn Tòa án hay Trọng tài để giải quyết tranh chấp, được sử dụng các phương tiện pháp lý để bảo vệ mình trước các bên có liên quan.

Ngoài ra, pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp còn có những quy định giải quyết các yêu cầu chung về bảo đảm quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp (quy định về việc xóa bỏ phân biệt đối xử doanh nghiệp theo hình thức sở hữu), về công bằng trong phát triển kinh tế, đảm bảo lợi ích của nhà nước.

Bài viết liên quan:

Tổ chức kinh tế là gì? Đặc điểm của tổ chức kinh tế

Đặc điểm về quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *